Share PDF

Search documents:
  Report this document  
    Download as PDF   
      Share on Facebook

Bên thắng cuộc Tập II Quyền bính ( 1 )

Bên Thắng Cuộc

II. Quyền Bính ( 1 )

Huy Đức

Thuong yêu tặng Mỹ Đức

và hai con Thạch Thảo, Đức Trung

Mấy lời của tác giả

Tôi rời Campuchia truớc khi Việt Nam rút hết “Quân tình nguyện”. Khi học ở truờng chuyên gia quân sự 481, chúng tôi duợc chuẩn bị tu tuởng dể “giúp bạn lâu dài”. Nhung thay vì ở lại hàng thập niên, tôi chỉ phải ở lại Campuchia gần bốn nam. Tôi quyết dịnh rời quân dội. Một cá nhân cung nhu một quốc gia, súng ống chỉ nên duợc lựa chọn khi không còn con duờng nào khác.

Cuối nam 1987, tôi bắt dầu làm việc ở Van phòng huyện ủy Nhà Bè. Thời gian ấy, Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh dang viết “Những việc cần làm ngay”. Công việc ở Van phòng huyện ủy thật an nhàn, tôi dã sử dụng phần lớn thời gian dể viết van và viết bài cho các báo. Sau khi dọc những bài báo ấy, Bí thu huyện ủy Trần Van Đông giao cho tôi phụ trách biên tập tờ tin và dài truyền thanh huyện Nhà Bè. Chỉ mấy tháng sau, tôi duợc nhà van Nguyễn Đông Thức dua về Tuổi Trẻ. Không chỉ có kho sách cực kỳ phong phú của thu viện Đắc Lộ mà tờ Tuổi Trẻ tiếp quản sau khi các giáo sỹ dòng Tên bị bắt nam 1979, dội ngu Tuổi Trẻ thời “161 Lý Chính Thắng” cung là một “kho tu liệu” vô giá. Không phải ai ở trong cái không khí “thanh niên sôi nổi” ấy cung biết hết những trắc ẩn trong lòng các dồng nghiệp của mình.

Ở dây, tôi gặp những dồng nghiệp về sau trở thành nhân vật trong cuốn sách của mình. Ở dây, tôi gặp những con nguời lặng lẽ, tuởng quá khứ dã duợc chôn chặt, nhu: biên tập viên Lệ Xuân, con gái ông Nguyễn Thành Đệ, nguời sau khi dóng 200 luợng vàng dể vuợt biên theo Phuong án II không thành bị lấy nốt can nhà cuối cùng1; thu ký tòa soạn Võ Van Điểm – chủ biên dầu tiên của tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật, Tuổi Trẻ Cuời – nguời có vợ và hai con chết trên biển trong một chuyến vuợt biên.

Thế hệ chúng tôi may mắn duợc làm báo sau “dổi mới”. Những nguời viết có trách nhiệm nhận thấy một co hội to lớn sau tuyên bố “cởi trói” của Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh dể không còn tiếp tục sự nghiệp viết lách bằng thứ van chuong minh họa hay báo chí tô hồng. Đó là một thời dáng nhớ của van nghệ và báo chí. Rất tiếc là chỉ hon một nam sau khi Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh kêu gọi van nghệ sỹ tự cứu mình, tự ông dã có nhiều thay dổi.

Ngay trong khuôn viên 161 Lý Chính Thắng, chúng tôi có thể cảm nhận sự cang thẳng. Có lúc một số phóng viên Tuổi Trẻ dã phải chuẩn bị cho khả nang bị khởi tố. Có nhữngbuổi chiều, nhất là sau khi Tổng biên tập Vu Kim Hạnh di gặp Phó bí thu Thành ủy Bảy Dự Nguyễn Võ Danh, di gặp Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh, di gặp Bộ truởng Bộ Nội vụ Mai Chí Thọ trở về…, chúng tôi nín thở chờ chị bàn bạc với anh Ba Lãng2. Những hôm gay cấn, hai nguời còn phải tham vấn Cựu Tổng biên tập Võ Nhu Lanh3. Cho dến truớc khi ông Nguyễn Van Linh hết nhiệm kỳ, những nguời tiên phong trong van nghệ, báo chí dều phải ra di gần hết.

Tuổi Trẻ còn tạo co hội cho tôi buớc ra bên ngoài khuôn viên “161 Lý Chính Thắng”. Tôi may mắn duợc phân công viết dủ các loại dề tài, từ chính trị tới xã hội, từ kinh tế tới van hóa, từ hoạt dộng của các co quan tố tụng dến các hoạt dộng của bộ máy Đảng, Nhà nuớc, từ trung uong tới dịa phuong. Từ nam 1989, tôi trực tiếp dua tin hầu hết các vụ án lớn xảy ra trên cả nuớc, theo dõi từ giai doạn khởi tố diều tra cho dến khi nội vụ duợc dua tới tòa. Cung từ nam 1989, tôi duợc giao viết về các kỳ họp Hội dồng nhân dân và sau dó có mặt ở Hội truờng Ba Đình gần nhu mỗi kỳ Quốc hội họp.

Những nam dầu thập niên 1990, chúng tôi duợc bố trí an, ở với các doàn dại biểu tại nhà khách số 8 Chu Van An; duợc dự hầu hết các phiên thảo luận mà các dại biểu dang là ủy viên Trung uong, ủy viên Bộ chính trị. Chúng tôi cung dễ dàng gặp gỡ, trò chuyện với Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh, Tổng Bí thu Đỗ Muời, Chủ tịch nuớc Lê Đức Anh, Thủ tuớng Võ Van Kiệt, Thủ tuớng Phan Van Khải, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo, Tổng Bí thu Nông Đức Mạnh… Cánh nhà báo chúng tôi4 có nhiều co hội trao dổi, dủ loại thông tin, với các nhà lãnh dạo cả khi tác nghiệp, khi bên tách trà và không ít khi bên chén ruợu.

Chính truờng duợc phản ánh trong cuốn II bao gồm những gì mà tác giả có thể quan sát từ cự ly rất gần. Ở những thời diểm nóng bỏng nhất, tôi có thể vào tận phòng làm việc hỏi chuyện Thủ tuớng Võ Van Kiệt, Thủ tuớng Phan Van Khải; tôi cung có không ít dịp dến nhà riêng, vào phòng làm việc của Tổng Bí thu Đỗ Muời, Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu… phỏng vấn. Chúng tôi

chứng kiến một cách trực tiếp các xung dột giữa những nguời chủ truong kinh tế thị truờng với những nguời lo “chệch huớng”, những xung dột dã làm biến dạng khá nhiều chính sách.

Tất cả những tu liệu ấy dều duợc tôi luu trữ. Nhung không chỉ dừng lại ở những ghi chép của mình, từ nam 2003, khi bắt dầu tập trung phần lớn thời gian cho cuốn sách này, tôi ngồi diểm lại toàn bộ tu liệu mình dã thu thập duợc, dánh dấu các khoảng trống và bắt dầu tiến hành thêm hàng ngàn cuộc phỏng vấn. Với sự giúp dỡ của một nhóm sinh viên và một số nhà nghiên cứu trẻ, tôi bắt dầu dối chiếu lời kể của các nhân chứng với các ghi chép của chính họ, của tôi (với các sự kiện mà mình trực tiếp quan sát trong thời gian làm báo), dối chiếu với báo chí ở các thời diểm khác nhau, với lời kể giữa các nhân chứng và dặc biệt là dối chiếu với các tài liệu gốc, gồm thu từ, công van, chỉ thị, nghị quyết và biên bản các cuộc họp.

Cuốn II bắt dầu từ thời diểm ông Nguyễn Van Linh lên cầm quyền cho dến khi ba ông cố vấn dua ông Lê Khả Phiêu ra khỏi chiếc ghế tổng bí thu. Tuy có những câu chuyện còn kéo dài dến sau Đại hội Đảng lần thứ XI (1-2011), nhung hai chuong cuối của cuốn II chủ yếu nói về “cái duôi” chủ nghia xã hội và những hệ lụy mà xã hội Việt Nam dang gánh chịu.

Chuong Tuớng Giáp duợc dặt ở vị trí cuối phần “Dấu ấn Nguyễn Van Linh”, bắt dầu bằng một nỗ lực nhằm hạ uy tín của “vị tuớng Điện Biên” diễn ra cuối nhiệm kỳ của Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh nhung chủ yếu nói về mối quan hệ giữa LêDuẩn – Tuớng Giáp – Lê Đức Thọ. Những xung dột quyền lực dã chi phối phần lớn các quyết dịnh liên quan dến cuộc chiến diễn ra thời thập niên 1960, kéo dài tới giữa thập niên 1980, liên quan dến không ít máu xuong và dể lại khá nhiều di chứng. Phần còn lại của cuốn II chủ yếu viết về những gì diễn ra bên trong Ba Đình thời thập niên 1990. Thời mà ý thức hệ không chỉ tồn tại nhu một dức tin của những nguời cầm quyền mà còn trở thành những công cụ chính trị phục vụ cho quyền lực.

Tuy nhiên, Quyền Bính không phải là một cuốn sách nói chuyện “thâm cung bí sử” cho dù có nhiều câu chuyện, có nhiều nhân vật duợc dặc tả rất cận cảnh. Những câu chuyện duợc kể trong cuốn sách này là sự chia sẻ của rất nhiều nguời trong cuộc về một giai doạn mà Việt Nam dã bỏ lỡ những co hội có thể di tới mục tiêu “công bằng, dân chủ, van minh” do chính dảng cầm quyền dề ra. Tuy kinh tế thị truờng dã làm thay dổi bộ mặt quốc gia và dời sống nhân dân nhung Việt Nam vẫn tụt hậu cho dù “nguy co” này dã duợc chỉ ra từ nam 1994.

Chính sách dất dai, thay vì lựa chọn những phuong thức sở hữu giải phóng tối da tiềm lực trong dất và trong dân lại cứ tự trói buộc vào sở hữu toàn dân, chỉ vì phuong thức này duợc coi là dặc

trung của chủ nghia xã hội. Nền kinh tế thay vì chọn phuong thức hiệu quả nhất dã phải dể cho kinh tế nhà nuớc làm chủ dạo. Hệ thống chính trị thay vì lấy sự minh bạch, dảm bảo nguyên tắc kiểm soát quyền lực dể có thể mang lại công lý và tránh tham nhung, lạm quyền lại uu tiên dảm bảo vị trí cầm quyền của Đảng.

Quyền Bính tiếp tục nói về những khúc quanh của Việt Nam. Nói về những thời diểm mà dảng cầm quyền thay vì nắm bắt tu duy của thời dại và ý chí của nhân dân, chỉ có thể loay hoay trong một cái vòng tự vẽ. Hệ thống chính trị, trải qua nhiều thế hệ, càng về sau lại càng có ít khả nang khắc phục sai lầm.

Sài Gòn – Boston (2009-2012)

Phần III: Dấu ấn Nguyễn Van Linh

Chuong XII: Cởi trói

Cho dù tuyên bố “cởi trói” của Nguyễn Van Linh là “ngứa miệng kêu” nhu ông nhận, hay là sách luợc duợc áp dụng khi mới cầm quyền, thì sự thật là các hoạt dộng van nghệ và báo chí sau dó dã bắt dầu duợc dặt trong một không gian mà tự do chỉ mở dần ra chứ không thể nào bóp lại.

Những Việc Cần Làm Ngay

Chiều chủ nhật 24-5-1987, tòa soạn chuyển lên Ban Biên tập báo Nhân Dân một phong thu, nói là của một “nguời dứng tuổi nhờ dua ngay cho dồng chí tổng biên tập”. Bảo vệ mô tả, “nguời dứng tuổi” di xe Lada và có một nguời cận vệ nói giọng miền Nam.

Chi tiết quan trọng nhất dể Ban Biên tập báo Nhân Dân liên hệ giữa bút danh N.V.L., ký trong thu, với Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh là chiếc xe Lada. Theo nhà báo Hữu Thọ5: “Khi ấy các ông trong Bộ Chính trị dều di xe Volga hết”. Sáng 25-5-1987, trên trang nhất Nhân Dân xuất hiện một bài báo với dầu dề in chữ dậm “Những việc cần làm ngay”.

Không phải là một thông diệp chính trị nhu một vị nguyên thủ quốc gia, bài báo dầu tiên của Tổng Bí thu yêu cầu: “Trật tự giá cả cần phải duợc tôn trọng”. Dẫn ra các “nguyên nhân bất chính” làm tang giá nhu “bọn phá hoại lâu lâu lại phao tin lên luong dổi tiền”, “nhiều dịa phuong, nhiều cấp tự ý lên giá bất hợp pháp”, “nhiều co sở ghìm hàng gây khan hiếm giả tạo”,… ông Linh coi lập lại trật tự giá cả “thật sự là một việc cấp bách, cần phải làm ngay”. Ông Linh yêu cầu “các co quan tuyên truyền phải chỉ dích danh những cá nhân, những co quan, những tổ chức làm các việc trái với Nghị quyết Trung uong”; dòi “các co quan pháp luật phải lôi các vụ

việc sai trái lớn ra nghiêm trị” và dồng thời dua kết quả xử lý “lên các co quan ngôn luận cho dân biết”.

Bài báo thứ hai, dang vào ngày 26-5-1987, của Tổng Bí thu cung chỉ nhặt từ một thông tin dang trong mục “Ý kiến bạn dọc” của báo Nhân Dân, số ra ngày 21-5-1987, về việc “kho lạnh Bến Bính Hải Phòng làm hỏng 360 tấn tỏi khô trị giá khoảng 20 triệu dồng”. Sau khi dặt câu hỏi: “Ai là nguời phải chịu trách nhiệm? Hình phạt sẽ ra sao?”, Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh dã dua ra khái niệm “im lặng dáng sợ” dể chỉ thái dộ bất chấp của các co quan nhà nuớc truớc “nhiều vụ việc sai phạm rất lớn do quần chúng phát hiện” và duợc “báo chí từ Bắc chí Nam” dang tải.

Một tuần sau khi N.V.L. khởi dang “những việc cần làm ngay”, ngày 2-6-1987, báo Tuổi Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh cho dang lại loạt bài “Vật tu roi vào tay ai” của báo Hàng Không Việt Nam. Đây là loạt phóng sự diều tra của một nhóm nhà báo dung cảm viết về tiêu cực của hai cán bộ cấp cục, dang trên chính tờ báo của ngành.

Bằng những tu liệu diều tra chuẩn xác, các nhà báo dã công khai danh tánh cục truởng và cục phó Cục Quản lý bay, nhân duợc tổng cục truởng Hàng không cấp 500 nghìn dồng dể xây nhà, dã lập ra một “Ban Kiến thiết” gồm bảy cán bộ, trong dó có một trung tá làm truởng ban dể “lo việc xây dựng nhà riêng cho mình”. Đội xây dựng do Cục Quản lý bay lập ra dã lao dộng trong vòng nửa nam mới xây xong hai ngôi nhà. Theo bài báo thì chỉ riêng việc vận chuyển vật tu, Cục dã phải “huy dộng 150 chuyến xe ô tô, tiêu hao 4.800 lít xang”. Kết quả là “hai can villa lớn, khá dẹp cạnh nhau, nổi hẳn lên giữa những can nhà thấp lè tè của cán bộ, công nhân viên sân bay Gia

Lâm”.

Loạt bài diều tra này dã duợc dang phần dầu trên báo Hàng Không Việt Nam từ ngày 7-4-1987, nhung phần tiếp theo thì không thể dang vì “ban biên tập dã bị nhiều sức ép”. Ngay sau khi Nguyễn Van Linh cho dó là sự “im lặng dáng sợ”, một doàn kiểm tra dã duợc lập ra. Báo Tuổi Trẻ ngày 7-7-1987 cho dang kết luận của doàn, xác nhận: “Một số cán bộ có chức có quyền ở ngành Hàng không dã gây thiệt hại cho tài sản xã hội chủ nghia”. Đặc biệt doàn kiểm tra nhấn mạnh, việc cho ngung loạt bài diều tra là “xâm phạm quyền tự do báo chí” và tuyên bố: “Báo

Hàng Không sẽ dang tiếp phần còn lại”.

Kể từ bài báo dầu tiên dang ngày 26-5-1987 cho dến ngày 30-5, ngày nào Nguyễn Van Linh cung có bài dang trên mục “Những việc cần làm ngay”. Nhịp dộ này tuy có thua ra trong tuần lễ thứ hai, nhung trong tháng 6-1987, gần nhu tuần nào ông Nguyễn Van Linh cung gửi tới báo

Nhân Dân ít nhất là một bài báo ngắn. Hễ cứ báo Nhân Dân cho dang “những việc cần làm ngay” là các báo Tuổi Trẻ, Lao Động, Thanh Niên và các tờ báo Đảng tại các dịa phuong lại dang lại nguyên van trên dầu trang nhất.

Việc Tổng Bí thu viết báo, nay dề nghị “quản lý giá cả”, mai dề nghị “phải dua những cán bộ, dảng viên tốt vào ngành thuong nghiệp quốc doanh”, làm nảy sinh nhiều ý kiến khác nhau. Trong Ban Bí thu, theo nhà báo Hữu Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Thanh Bình dã can ngan ông Linh dừng viết nữa. Ngày 10-7-1987, ông Nguyễn Van Linh dã công khai trả lời sự can ngan này6.

Theo ông Hữu Thọ: “Ban Biên tập báo Nhân Dân quyết dịnh phải tỏ thái dộ ủng hộ dồng chí Tổng Bí thu”. Ngày 13-7- 1987, báo Nhân Dân cho dang xã luận “Huởng ứng những việc cần làm ngay”. Để rồi, ngay sau dó, các báo mở chuyên mục thuờng xuyên và gần nhu bất cứ chỉ thị nào của các bộ, ngành, dịa phuong cung bắt dầu bằng khẩu hiệu “Huởng ứng những việc cần làm ngay” mà báo Nhân Dân dua ra ngày 13 tháng Bảy.

Tại Sài Gòn, Thành ủy ra nghị quyết yêu cầu các cấp ủy, ban ngành, doàn thể từ thành phố dến phuờng, xã phải tổ chức xem xét và “xử lý ngay những vấn dề mà dồng chí N.V.L. nêu”; các ngành, các cấp của Thành phố “phải học tập dồng chí N.V.L. tự mình nêu ra những việc cần làm trong ngày, tuần, tháng không chỉ trong mặt trận chống tiêu cực mà trên nhiều linh vực hoạt dộng khác”7. Ngày 25-6-1987, khi so kết cuộc vận dộng, mọi thành tích trên các linh vực khác nhau dều duợc Thành ủy coi là nhờ huởng ứng “những việc cần làm ngay” mà có8.

Báo chí, từ chỗ dang viết những bài ca ngợi, chuyển sang “phanh phui” những gì bị coi là tiêu cực. Những vụ việc ở “Phòng thuế quận Tu”, ở “Tổng cục Trang bị Kỹ thuật, Bộ Nông nghiệp” dã duợc dang trên báo và bị quên lãng, khi có “Những việc cần làm ngay” của Nguyễn Van Linh, bắt dầu duợc “cày, xới” lại. Báo chí không ngại ngần nêu dích danh cả những ủy viên Trung uong nhu Bí thu Tỉnh ủy Thanh Hóa Hà Trọng Hòa.

Ngày 19-9-1987, Hội Nhà báo tổ chức hội thảo khẳng dịnh “báo chí nhất dịnh thắng lợi trong cuộc dấu tranh chống tiêu cực”. Ngày 21-9-1987, Ban Bí thu ra Chỉ thị 15, dánh giá: “Hoạt dộng vừa qua của báo chí chống tiêu cực buớc dầu dem lại niềm tin cho quần chúng, thúc dẩy các vụ tiêu cực duợc xử lý nhanh hon”. Ban Bí thu phê phán “một số cán bộ lãnh dạo dịa phuong chua biết sử dụng và ủng hộ báo chí làm công cụ chống tiêu cực”. Ngày 4-9-1987, Chủ tịch Hội dồng Bộ truởng Phạm Hùng kêu gọi báo chí “phát huy mạnh mẽ sức mạnh của mình”.

Sau khi thuyết phục duợc báo giới, ông Nguyễn Van Linh chuyển sang tìm kiếm ảnh huởng của mình trong giới van nghệ. Nguời giới thiệu ông Linh với van nghệ sỹ là Tuớng Trần Độ 9, Truởng Ban Van hóa van nghệ Trung uong. Trần Độ lúc dó cung dang cần sự ủng hộ của Tổng Bí thu cho một nghị quyết mà ông thai nghén nhằm “dổi mới vai trò lãnh dạo của Đảng trong linh vực van hóa van nghệ”. Nghị quyết của Trần Độ về sau nổi tiếng với tên gọi: “Nghị quyết

05”.

Ngay từ giai doạn chuẩn bị Nghị quyết 05, không khí dân chủ trong xã hội dã duợc khởi dộng bởi nhiều cuộc hội thảo và, dặc biệt, cuộc dối thoại với Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh. Theo Tuớng Trần Độ thì chính ông Nguyễn Van Linh muốn có cuộc gặp này dể ông “trực tiếp nghe tiếng nói của anh em” van nghệ.

Cuộc gặp giữa Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh với các van nghệ si và các nhà hoạt dộng van hóa diễn ra trong hai ngày 6 và 7-10-1987. Hon 100 dại biểu duợc coi là “tinh hoa” của giới dã về dự. Mở dầu cuộc làm việc, Tổng Bí thu chỉ nói trong chừng nam phút. Ông nêu ban khoan, “hình nhu từ sau ngày giải phóng van học nghệ thuật của chúng ta nghèo hon” rồi dề nghị các nhà van tìm nguyên nhân: có phải do có sự kiểm duyệt hay có sự hạn chế gì? Khi thấy các nhà van cứ vòng vo, Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh nói: “Còn rào dón thì chua chuyển biến duợc dâu!”.

Đuợc Tổng Bí thu mở lời, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện thừa nhận, van học nghệ thuật còn bị trói buộc, sự lãnh dạo van nghệ còn thô so, tác giả và tác phẩm dễ dàng bị kết án. Ông nói: “Bản án nào cung có kỳ hạn, mãn hạn tù, còn bản án van học thì cứ mãi treo lo lửng, có khi còn hại dến cả con cháu”. Những nguời phát biểu gay gắt nhu Nguyễn Khắc Viện, Duong Thu Huong dều duợc Tổng Bí thu dứng dậy bắt tay. Thái dộ của Tổng Bí thu dã dánh thức sỹkhí của những nguời từ lâu sống trong sợ hãi.

Họa si Phan Kế An gọi những sai lầm dối với van học nghệ thuật là “Maoist”. Nhà viết kịch Luu Quang Vu chỉ trích tình trạng “một nguời suy nghi cho mọi nguời, một cái dầu tối cao suy nghi cho mọi cái dầu”. Ông Vu nói: “Sự dộc doán về tu tuởng bóp chết sáng tạo, làm khô kiệt van học và nghệ thuật”. Nhà van Nguyên Ngọc cho rằng: “Chiến tranh quá dài dã khiến chúng ta nói quá nhiều, quá sâu về Đảng, về nhân dân, về kẻ thù và gần nhu trong một thời gian rất dài không nói gì với các cháu bé, về cha mẹ, về gia dình… Chiến tranh dã khiến cho cả giáo dục, cả van học nghệ thuật, thậm chí cả những phạm trù khoa học nhu sử học, dạo dức học, tâm lý học dều nhất loạt bị dồng nhất với chính trị”. Nhà phê bình Nguyễn Đang Mạnh ví van nghệ sỹ nhu những

“con chim bị trói”. Theo ông Mạnh: “Có thời lãnh dạo khinh bỉ sâu sắc van nghệ si. Mà con nguời bị coi thuờng, khinh bỉ thì tự nhiên thấy mình nhu cung hèn kém, nhỏ lại”.

Trong nam muoi phút phát biểu sau cùng, Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh dồng ý là phải “cởi trói” mới phát huy hết khả nang của van nghệ sỹ. Mặc dù thừa nhận: “Truớc hết, tôi nghi Đảng phải cởi trói. Cởi trói trong linh vực tổ chức, chính sách trong các quy chế, chế dộ”, nhung ông Linh vẫn cho rằng: “Không thể có ai khác hon là các dồng chí phải tự làm. Nghe các dồng chí nói, tôi rất thông cảm. Chính vì thông cảm mà sáng nay tôi dã ngứa miệng kêu: hãy tự cứu lấy mình truớc khi trời cứu”.

Ông Nguyễn Van Linh chia sẻ: “Tôi không phải là nhà van nghệ, nhà báo nhung ngứa ngáy quá nên vừa rồi mới viết “Những việc cần làm ngay”. Nhiều nguời hoan nghênh, huởng ứng nhung không phải không có những nguời cho rằng: sao lại bôi den chế dộ”. Không khí cuộc gặp và phát biểu của Tổng Bí thu dã khiến cho ông Nguyễn Kiên, một nhà van duợc coi là trầm tinh nhất cung phải thốt lên: “Có cảm giác là chúng ta dã bắt dầu buớc sang một thời kỳ khác”10.

Không phải tự nhiên ông Nguyễn Van Linh chọn báo chí, van nghệ, thay vì chọn hệ thống tổ chức mà ông dứng dầu dể gây ảnh huởng chính trị cho mình. Ông Linh hiểu mình ở dâu trong bàn cờ Hà Nội. Khi mới duợc bầu làm tổng bí thu, ông Nguyễn Van Linh nói truớc Ban Chấp hành Trung uong: “Truớc dây, tổng bí thu thuờng hon các dồng chí khác trong Bộ Chính trị một cái dầu; nay, chúng tôi chỉ hon kém nhau sợi tóc”.

Ông Nguyễn Van Linh mới duợc bổ sung vào Bộ Chính trị tháng 6-1985 và duợc cử làm thuờng trực Ban Bí thu từ tháng 7-1986. Cho dến khi ấy, ông Linh chỉ thực sự có sáu tháng kinh nghiệm xử lý công việc ở tầm quốc gia. Theo ông Trần Phuong: “Sinh thời, anh Ba không dánh giá cao Nguyễn Van Linh” 11. Việc ông Linh bị dua ra khỏi Bộ Chính trị tại Đại hội V là ý kiến của chính Tổng Bí thu Lê Duẩn. Tháng 12-1981, ông Nguyễn Van Linh bị dua trở lại Sài Gòn làm bí thu, một chức vụ mà ông dã giữ từ nam 1945. Nhung Sài Gòn không phải là chặng duờng cuối cùng của sự nghiệp Nguyễn Van

Linh nhu nhiều nguời lúc bấy giờ dự doán.

Sài Gòn nam 1981 là một thành phố lớn, bộ máy công an, quân dội, báo chí và vị trí của nó có thể dua ảnh huởng chính trị của nguời lãnh dạo vuợt ra khỏi khuôn khổ dịa phuong. Khác với những lần làm bí thu bí mật, và sau nhiều nam giữ những chức vụ chỉ có danh, ông Nguyễn Van

Linh có duợc trong tay một chính quyền thực sự. Cung nhu Võ Van Kiệt, ông dã khai thác rất tốt lợi thế ấy.

Nam 1985, nhân dịp kỷ niệm một thập niên sau “ngày giải phóng”, ông Nguyễn Van Linh cho xuất bản cuốn Thành Phố Hồ Chí Minh 10 Nam, phê phán sự “choáng ngợp truớc thắng lợi” và chỉ trích những cán bộ tiếp quản miền Nam hồi nam 1975 là “thừa nhiệt tình và thiếu kiến thức”. Cuốn sách – duợc biên soạn bởi những nguời thạo việc viết lách nhất của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, duợc Nhà Xuất bản Sự Thật in tới 30.200 cuốn – dã gây duợc uy tín rộng rãi cho nguời dứng tên12. Tuy nhiên, những gì gây chú ý trong cuốn sách này của Nguyễn Van Linh chủ yếu nằm trong luồng gió “chống bệnh duy ý chí” mà ông Truờng Chinh dang bắt dầu. Từ dó cho dến Đại hội VI, Nguyễn Van Linh gần nhu không có dóng góp gì thêm cho “dổi mới”13.

Ngay sau Đại hội VI, vừa lo lắng cho nguời kế nhiệm, vừa lo lắng cho sự nghiệp thực thi những chính sách mà mình mới dua ra, Truờng Chinh nói với Nguyễn Van Linh: “Anh lên, công việc bề bộn, phải có nguời giúp việc. Nếu anh muốn, tôi sẽ nhuờng Trần Nhâm, Hà Nghiệp cho anh”. Nhung theo Trần Nhâm, ông Linh lạnh lùng: “Tôi không muốn nguời ta nói tôi duợc rút ra từ trong lò Truờng Chinh”.

Công chúng càng ít biết dến Truờng Chinh nhu một kiến trúc su dổi mới bao nhiêu, lại càng gắn vai trò này cho Nguyễn Van Linh bấy nhiêu14. Nguyễn Van Linh nắm duợc lợi thế dó và trong khoảng thời gian ngắn ngủi lúc dầu, ông dã truyền duợc thêm cảm hứng cho dổi mới. Đặc biệt trong những buớc di dầu nhiệm kỳ, sau khi Nguyễn Van Linh chạm tay vào “dèn xanh”, giới van nghệ sỹ dã phá vỡ không ít xiềng xích mà họ dã bị tròng vào hon hai thập niên truớc dó.

Xiềng xích “Nhân van”

Báo chí xuất hiện ở Việt Nam chỉ ba nam sau khi nguời Pháp dặt chân lên “Lục tỉnh”. Ngày 1-2-

1865, tại Sài Gòn, Truong Vinh Ký cho xuất bản Gia Định Báo. Tiếp theo dó là sự ra dời của Phan Y ên Báo, Nông Cổ Mín Đàm. Đầu thế kỷ 20, giới phụ nữ Việt Nam cung dã có tiếng nói riêng với tờ Nữ Giới Chung do bà Suong Nguyệt Anh làm chủ bút.

Báo chí miền Bắc ra dời muộn hon15. Nhung, ở dây lại là noi bắt dầu các phong trào: Tự Lực Van Đoàn, nam 1933; Tiểu Thuyết Thứ Bảy, nam 1934; Tho Mới, cuối thập niên 1930… Đến nam 1939, Việt Nam co 48 nhât bao, 68 tâp san va 292 tac phâm xuât ban bang quôc ngu. Đi cùng van chuong, báo chí, là âm nhạc và hội họa. Các tác phẩm dỉnh cao của âm nhạc Việt Nam

từng xuất hiện trong thời tiền chiến. Nhung tháng 8-1945, những nguời cộng sản cuớp chính quyền. Ở dâu có dảng cộng sản cầm quyền, ở dó bắt dầu có cách mạng về van hóa.

Từ ngày 25 dến 28-3-1943, Ban Thuờng vụ Trung uong mở hội nghị tại làng chài Võng La thuộc huyện Đông Anh, Phúc Y ên, nhằm phản ứng với tình hình trong nuớc và trên thế giới. Cung trong những ngày ấy, Truờng Chinh viết Đề Cuong Van Hóa Việt Nam, nêu rõ quan diểm của Đảng Cộng sản Đông Duong: Van hóa là một trong ba mặt trận (cùng với kinh tế, chính trị) ở dó nguời cộng sản không chỉ làm cách mạng chính trị, mà còn phải làm cách mạng van hóa nữa.

Cung từ nam 1943, Truờng Chinh dã dua những quan diểm này vào công cuộc lãnh dạo các hoạt dộng van hóa cứu quốc. Đây là duờng lối dựa trên các nguyên lý van nghệ của Mao Trạch Đông: bắt van nghệ phục vụ chính trị, lấy mục tiêu sáng tạo van nghệ là phục vụ công nông binh, phục vụ tuyên truyền nhu là một mệnh lệnh tuyệt dối cho van nghệ si. Đề cuong Van hóa của Truờng Chinh thoạt dầu chua phải dã có khả nang chi phối, ngay cả với những nguời làm “van hóa cứu quốc”.

Tại Hội nghị Quốc dân Tân Trào, tháng 8-1945, Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi, những nhà lãnh dạo Hội Van hóa Cứu quốc, từng dua ra những quan diểm khác hẳn với Truờng Chinh. Quan diểm của Nguyễn Hữu Đang và Truờng Chinh càng trở nên khác nhau hon trong các cuộc tranh luận tại Hội nghị Van hóa Cứu quốc toàn quốc, tháng 10-1946. Lúc bấy giờ, Chính phủ Hồ Chí Minh chỉ gồm một lực luợng kháng chiến ẩn náu trong rừng. Truờng Chinh vẫn dang hành xử nhu một nhà chính trị chứ chua hành xử nhu một nguời cầm quyền. Nhiều cuộc tranh luận vẫn duợc diễn ra dân chủ. Nhung, tháng 7-1948, tại Hội nghị Van hóa toàn quốc lần thứ II, Hội Van hóa Cứu quốc dã bị giải tán dể thành lập Hội Van nghệ Việt Nam theo quỹ dạo của duờng lối van nghệ mà Mao Trạch Đông áp dụng với nguời Trung Quốc. Tổng thu ký Hội Van hóa

Cứu quốc Nguyễn Đình Thi duợc làm phó tổng thu ký Hội Van nghệ.

Sau Hội nghị Việt Bắc, 1949, noi tất cả van nghệ sỹ kháng chiến duợc triệu tập về ngồi kiểm diểm nhau suốt ba ngày. Sau “tho không vần” của Nguyễn Đình Thi cùng với “tranh lập thể” của Tạ Tỵ, Van Cao trở thành mục tiêu phê phán công khai; sau khi dua ra khẩu hiệu “Cách mạng hóa tu tuởng, Quần chúng hóa sinh hoạt, Kháng chiến hóa van hóa”, Tố Hữu yêu cầu van nghệ sỹ, sau ba nam kháng chiến, phải loại trừ hết những gì còn roi rớt của cái gọi là “tiểu tu sản”.

Trong số dầu tiên của Tạp chí Van Nghệ, Nguyễn Đình Thi gần nhu dã lặp lại những gì Tố Hữu nói: “Buớc vào nam thứ ba của cuộc kháng chiến, van nghệ sỹ phải nhận rõ duờng di”16.

Cho dù bị Nguyễn Đình Thi bỏ roi, Nguyễn Hữu Đang vẫn cùng Truong Tửu, Nguyễn Mạnh Tuờng, Tô Ngọc Vân, Van Cao, SỹNgọc tiếp tục tranh luận về dân chủ và tự do sáng tác. Nhiều van nghệ sỹ kháng chiến khác cung tự nhận thấy con duờng của mình. Những dợt sinh hoạt chính trị này, từ tháng 7-1948, dã dẩy hàng loạt van nghệ sỹ bỏ về thành vì không chấp nhận duờng lối van nghệ chủ truong phân chia giai cấp. Sau nam 1954 những nguời này lại dã tiếp tục di tới Sài Gòn17.

Cách mạng tháng Tám nam 1945 dã dặt Việt Nam truớc một khúc quanh. Nhung chiến thắng của Mao Trạch Đông ở Trung Hoa nam 1949, mới thực sự dẩy số phận dân tộc Việt Nam buớc hẳn vào con duờng cộng sản. Mao dã giúp Hồ Chí Minh tiếp cận với Stalin, dồng thời viện trợ vu khí và chuyên gia dể Hồ Chí Minh tiếp tục kháng chiến chống Pháp.

Chiến dịch Biên giới nam 1950 là một chiến thắng quân sự có tầm cỡ chiến luợc của quân dội Tuớng Giáp. Nhung, dồng thời, cung từ nam 1950, biên giới phía Bắc dã duợc mở ra với phe xã hội chủ nghia và từ dây bỏ ngỏ dể các “nguyên lý cách mạng” của Mao và Stalin mặc sức tràn sang. Đặc biệt, từ nam 1953, cung cách “chỉnh huấn, chỉnh quân” của Mao bắt dầu duợc áp dụng, dặt những nguời kháng chiến trong dó có các van nghệ sỹ trong thế duong dầu với một cuộc “khủng bố” tinh thần khốc liệt.

Nếu nhu dầu những nam 1950, theo Nguyên Ngọc, những nguời kháng chiến vẫn còn có thể hát Suối Mo, Thiên Thai thì từ sau “chỉnh huấn, chỉnh quân”, ở dâu cung chỉ nói dến “dấu tranh giai cấp”. Nguyên Ngọc nhớ lại: “Khi dó, trí thức phải tự coi mình nhu ‘cục phân’18. Tôi hai muoi mốt tuổi chua kịp gây ra khuyết diểm gì dành phải tự kiểm vì dã âm thầm mo dến yêu duong, dục vọng”.

Những van nghệ sỹ dã nổi tiếng truớc dó thì phải “bới lông tìm vết” trong chính các tác phẩm của mình. Hoài Thanh tự phê phán tác phẩm quan trọng nhất cuộc dời ông: Thi Nhân Việt Nam.

Nguyễn Tuân xin từ “ba dứa con tinh thần”: Chiếc Lu Đồng Mắt Cua, Thiếu Quê Huong, Vang Bóng Một Thời. Thái dộ này của các bạn van dã khiến cho những nguời chính trực trong giới van chuong ngao ngán.

Cung trong thời gian dó, lịch sử “phe xã hội chủ nghia” duợc dánh dấu bởi cái chết của nhà dộc tài Stalin ngày 5-3- 1953. Ngày 17-6-1953 nguời dân biểu tình tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Các

nhà van Đức phê phán chính sách van nghệ chuyên chính của Đảng và Nhà nuớc. Tháng 7-1954,

ở Trung Quốc, Hồ Phong công bố bức thu ngỏ gửi Ban Chấp hành Trung uong Đảng, gọi chính sách của Đảng Cộng sản Trung Quốc dối với Van nghệ là “ luỡi dao dâm vào óc các nhà van cách mạng”.

Tháng 10-1954, Trần Dần, Đỗ Nhuận và Hoàng Xuân Tùy duợc cử di Trung Quốc viết lời bình cho phim tài liệu về Điện Biên Phủ. Họ ở lại Trung Quốc cho dến ngày 12-12-1954, trong thời gian dó, không khí yêu cầu cải cách dân chủ ở Trung Quốc duợc cho là có ảnh huởng không ít dến Trần Dần và Đỗ Nhuận.

Tháng 1-1955, ở Hungary, sáu muoi ba nhà van lên tiếng phản dối chế dộ dộc tài. Trong khi dó, ngày 4-3-1955, Phòng Van nghệ quân dội do Trần Dần, Tử Phác cùng Hoàng Cầm, Lê Đạt, tổ chức thảo luận phê bình tập tho Việt Bắc của Tố Hữu. Cuộc thảo luận có mặt Đại tuớng Nguyễn Chí Thanh, chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tho cách mạng của Tố Hữu bị coi là “nhỏ” hon tho Tố Hữu ngày xua. Tố Hữu còn bị phê phán sùng bái Hồ Chí Minh.

Báo Van Nghệ số 6519 còn mở “tự do diễn dàn” dể thảo luận về tập tho Việt Bắc. Cuộc tranh luận kéo dài dến tháng 8- 1955, rộng ra và chuyển sang nhiều báo khác. Hội Van nghệ, duới sự lãnh dạo của Tố Hữu, tổ chức hai buổi tọa dàm. Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi và Hoàng Trung Thông ca ngợi Việt Bắc, coi Tố Hữu là ngọn cờ dầu của tho kháng chiến. Hoàng Y ến cho rằng tho Tố Hữu ngày nay có nhiều doạn giả tạo công thức. Hoàng Cầm chê: tho Tố Hữu thiếu chất sống thực tế, nhạt nhẽo, hời hợt và không dột phá duợc vào một khía cạnh nào của tâm hồn.

Tháng 4-1955, Trần Dần, Tử Phác, Hoàng Cầm, Đỗ Nhuận, Hoàng Tích Linh và Trúc Lâm ký bản “Dự thảo dề nghị cho một chính sách van hoá”, dòi quyền tự do sáng tác và yêu cầu cải cách chính sách van nghệ trong quân dội. Bản dự thảo sắp duợc thông qua, thì cuối nam 54, dầu 55, Phòng Van nghệ quân dội tổ chức một cuộc thảo luận về việc thay dổi chính sách van nghệ với sự có mặt của Tuớng Nguyễn Chí Thanh. Trong buổi thảo luận, Trần Dần dòi trả lãnh dạo van nghệ về tay van nghệ si, bỏ mọi “chế dộ quân sự hiện hành” trong van nghệ quân dội. “Nghe xong dồng chí Nguyễn Chí Thanh dặn dò anh em phải coi chừng, dó là quan diểm tu sản, phi

Đảng, phi giai cấp, phi chính trị. Hồi dó, anh em chua vỡ lẽ, còn ấm ức, cho là cấp trên không thông cảm. Trần Dần và vài nguời khác thì lồng lộn, chửi bới, reo rắc hoài nghi, chán nản”20. Bị phê bình, Trần Dần viết don xin ra khỏi Đảng, xin giải ngu dồng thời quyết dịnh kết hôn với bà Bùi Thị Khuê, con một gia dình Thiên Chúa giáo di cu, bất chấp sự phản dối của quân dội. Từ

ngày 13-6-1955, Trần Dần bị phạt “giữ tại trại” hon ba tháng dể kiểm thảo. Nguời vợ Công giáo, con của một gia dình tu sản, không thể nào xin duợc việc làm trên “thiên duờng miền Bắc” 21

Tháng 1-1956, Hoàng Cầm, Lê Đạt cho xuất bản sách dạng tạp chí có tên là Giai Phẩm Mùa Xuân, dang bài của Lê Đạt, Hoàng Cầm, Van Cao, Phùng Quán và bài tho Nhất Định Thắng của Trần Dần. Ngay lập tức, Giai phẩm bị tịch thu. Hội Van nghệ tổ chức hội nghị phê bình bài tho Nhất Định Thắng của Trần Dần với 150 van nghệ si tham dự.

Trần Dần bị kết án là “dồ dệ của Hồ Phong, mất lập truờng giai cấp, di nguợc lại duờng lối van nghệ của Đảng”. Theo lệnh của Tố Hữu, Trần Dần và Tử Phác bị giam ba tháng tại Hỏa Lò, Trần Dần dùng dao lam cứa cổ tự tử. Tuớng Nguyễn Chí Thanh can thiệp, hai nguời duợc thả. Ngày

7-3-1956, báo Van Nghệ dang một bài viết của Hoài Thanh có tựa dề “Vạch trần Tính chất Phản dộng trong bài tho Nhất Định Thắng của Trần Dần”.

Tháng 3-1956 tập tho Việt Bắc vẫn duợc Giải Nhất Giải thuởng Van học của Hội Van nghệ Việt

Nam 1954-1955. Du luận van nghệ si bất bình về việc trao Giải thuởng Van nghệ 1954-1955.

Trong khi những tác phẩm có tiếng vang trong kháng chiến thì không duợc giải. Ban giám khảo “tự chấm rất nhiều giải cho mình”, trong dó có nhiều tác phẩm chua xứng dáng của Tố Hữu, Xuân Diệu, Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tuởng, Trần Kim Trắc, Hồ Khải Đại,…

Cung trong thời gian dó, tại Đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, ngày 24-2-1956,

Khrushchev cho công bố “các tội ác của Stalin”. Liên Xô phục hồi danh dự cho các van nghệ si bị kết án và bị giết duới thời Stalin. Chủ tịch Hội Nhà van Liên Xô Phadeiev tự sát22. Ở Trung Quốc, Mao Trạch Đông phát dộng phong trào “Tram hoa dua nở tram nhà dua tiếng”. Chút ít không khí dân chủ xuất hiện.

Tháng 9-1956, khi kiểm diểm những sai lầm trong cải cách ruộng dất, Hội nghị Trung uong 10 nhấn mạnh việc “tang cuờng mở rộng tự do dân chủ”. Truờng Chinh, tác giả Đề Cuong Van Hóa Việt Nam, phải từ chức tổng bí thu. Nguời hùng Điện Biên Võ Nguyên Giáp duợc cử dứng ra “xin lỗi nhân dân về những sai lầm trong cải cách”.

Giữa lúc ấy, “lãnh tụ” của khuynh huớng dòi tự do, Nguyễn Hữu Đang, duợc giao tổ chức lớp học dân chủ muời tám ngày cho Hội Van nghệ. Tại dây, các van nghệ si dã chỉ trích gay gắt duờng lối lãnh dạo van nghệ của Đảng. Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi “thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng và hứa hẹn sửa chữa”. Hoài Thanh viết bài “Nhận lỗi tả khuynh trong phê bình Trần Dần”. Tháng 10-1956, Thuờng vụ Hội Van nghệ Việt Nam ra thông báo nhận sai lầm trong

việc phê bình bài tho Nhất Định Thắng. Nhung ngày vui dã không kéo dài. Truớc dó, ngày 29-8-

1956, Giai Phẩm Mùa Thu tập I ra dời dang bài Phê Bình Lãnh Đạo Van Nghệ của Phan Khôi. Báo Nhân Van số 123, dã phỏng vấn Nguyễn Mạnh Tuờng về vấn dề nỗ lực mở rộng tự do, dân chủ.

Phan Khôi là một chí sỹ chủ truong dấu tranh bất bạo dộng, gắn bó cuộc dời hoạt dộng của mình với phong trào Duy Tân. Nam 1925, khi Phan Châu Trinh về Việt Nam, Phan Khôi duợc coi nhu là nguời dón nhận “di sản tinh thần” cụ Phan. Cùng với Truong Tửu, Phan Khôi phê phán bệnh sùng bái cá nhân. Ông phê phán dích danh tác phong lãnh dạo van nghệ quan liêu, hách dịch, bè phái của Truờng Chinh, Tố Hữu, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi. Phan Khôi còn chỉ trích việc Hồ Chí Minh viết truyện mẫu dịnh cho các nhà van viết theo. Đây là giai doạn mà theo Truong Tửu: “ Một số van nghệ si non gan… biến thành những tên thu lại van nghệ xu nịnh trục lợi. Một số khác trốn vào thái dộ tiêu cực, chán nản công tác, tâm tu triu nặng hờn oán và uất ức… Còn một số không khuất phục, kịch liệt phê phán tác phong và duờng lối lãnh dạo của thuờng vụ Hội thì bị chụp mu, bị chèn ép, bị trù, bị hành hạ, bị gạt sang một bên”24.

Ngày 20-10-1956, báo Tram Hoa bộ mới do nhà tho Nguyễn Bính làm chủ nhiệm kiêm chủ bút ra số 1. Trong thời gian tồn tại của mình, với muời một số, Tram Hoa dã dang: “ Vì những sai lầm nghiêm trọng cần phải xét lại toàn bộ Giải thuởng van học 1954-1955”, bài “Chúng tôi dề nghị bỏ lệ khai báo trong chính sách quản lý hộ khẩu”. Tram Hoa cung cho công bố Thông báo của Hội nghị Trung uong 10 về sai lầm trong Cải cách ruộng dất và viết bài “ Để phát triển chế dộ ta, phải bảo dảm cho nhân dân duợc tham gia quản lý kiểm soát tích cực mọi công việc của nhà nuớc”,…

Tháng 11-1956, ở trong nuớc nguời dân ở vùng Công giáo Quỳnh Luu, Nghệ An, tổ chức bạo loạn. Ở Hungary, chính phủ của Thủ tuớng Nagy tuyên bố Hungary trung lập. Liên Xô dua quân sang, các phong trào dân chủ bị dập tắt.

Ngày 20-11-1956, Nhân Van xuất bản số 5: Lê Đạt với bút danh Nguời quan sát viết Bài Học Ba Lan Và Hungary; trong bài Hiến Pháp Việt Nam Nam 1946 Và Hiến Pháp Trung Hoa Bảo Đảm Tự do Dân Chủ Thế Nào, Nguyễn Hữu Đang viết: “Nguyên nhân sâu xa của những biến cố ở Ba Lan và Hungary là vì thiếu dân chủ, tại sao lại hiểu ra là vì thiếu chuyên chính?”25.

Ngày 14-12-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký “Sắc lệnh về chế dộ báo chí”, buộc nguời dân ra báo phải xin phép, chấm dứt trên miền Bắc thời kỳ ai muốn làm báo chỉ cần dang ký mà nguời dân An Nam duợc huởng gần một thế kỷ duới thời thực dân Pháp26.

Ngay trong ngàybáo Nhân Dân công bố sắc lệnh của Hồ Chí Minh, 15-12-1956, tờ Nhân Van số 6 bị giữ lại ở nhà in. Ngày 18-12-1956, Ủy ban Thành phố Hà Nội có quyết dịnh ngung phát hành báo Nhân Van, Giai Phẩm cùng các ấn phẩm khác của nhóm, dồng thời Nhà Xuất bản Minh Đức bị dóng cửa. Tháng 1-1957, Tram Hoa bị dình bản. Một chiến dịch báo chí cung duợc tung ra dể hạ uy tín các tờ báo và những nguời trong nhóm Nhân Van Giai Phẩm.

Cuối tháng 12-1956 Minh Đức vẫn cho ra tập san Tự Do Diễn Đàn và ngay lập tức ấn phẩm này bị cấm. Tập san bị cấm có các bài: “Tại sao quần chúng nhân dân tha thiết với cuộc dấu tranh Van nghệ” của Nguyễn Hữu Đang, “Nhiệm vụ của van học không phải là giải thích Chính sách” của Phan Ngọc, “Sinh hoạt Van hóa” của Truong Tửu và Trần Đức Thảo. Đặc biệt, tờ Tự Do Diễn Đàn dã cho công bố bản tham luận gây chấn dộng Trung uong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của Giáo su Nguyễn Mạnh Tuờng: “Qua sai lầm của Cải cách ruộng dất, Xây dựng Quan diểm Lãnh dạo”.27. Đầu nam 1957, Minh Đức còn xuất bản Sách Tết, với gần dủ mặt nhóm Nhân Van-Giai Phẩm.

Ngày 20-2-1957, khai mạc Đại hội Van nghệ toàn quốc lần thứ II, Truờng Chinh kêu gọi “dập nát luận diệu phản dộng Nhân Van Giai Phẩm”. Ngày 28-2-1957, “Đại hội bế mạc. Cụ Hồ dến. Nhiều công an quá. Mấy công an di theo dõi mấy van nghệ si, nghe họ nói dổng về báo cáo là có kẻ phá hoại. Nhao cả lên”28. Thời gian này, Truờng Chinh vừa bị mất chức tổng bí thu. Sau lời kêu gọi của ông, “bọn Nhân Van Giai Phẩm” vẫn nhiều nguời duợc bầu vào ban chấp hành Hội Liên hiệp Van học Nghệ thuật Việt Nam và các hội thành viên.

Cuối nam 1957, Mao Trạch Đông phát dộng chiến dịch “chống phái hữu”. Nhiều nhà van bị phê phán nhu Trần Xí Hà, Đặng Thác; nữ nhà van Đinh Linh, nguời duợc Giải thuởng van học Stalin, bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc và bị bắt29. Cung trong thời gian ấy, nhân chuyến tham Liên Xô, Mông Cổ và Bắc Triều Tiên, Hồ Chí Minh ghé Bắc Kinh. Khi ông trở về, Tố Hữu, Huy Cận và Hà Xuân Truờng duợc cử sang Trung Quốc học tập kinh nghiệm dấu tranh “chống phái hữu”. Tờ Nhân Dân xuất hiện nhiều bài viết “chống phái hữu” ký tên Trần Lực, một bút danh của Hồ Chí Minh30.

Ngày 6-1-1958, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 30 về việc chấn chỉnh công tác Van nghệ31. Cuối tháng 1-1958, Lớp học dấu tranh tu tuởng lần thứ Nhất duợc tổ chức tại ấp Thái Hà32 với 272 van nghệ si dảng viên tham dự. Từ 3-3 dến 14-4-1958, cung tại ấp Thái Hà, diễn ra Lớp học dấu tranh tu tuởng lần Hai với 304 cán bộ van hóa. Theo Đại tá Thái Kế Toại: “Hai lớp học này dã dùng thủ doạn dấu tố và áp lực tâm lý tập thể, vu cáo, bịa dặt tội lỗi cho những thành viên nhóm Nhân Van Giai Phẩm. Kết quả là không cần diều tra nguời ta dã có dầy dủ tội trạng của các nhân vật dể quyết dịnh bắt họ, kỷ luật họ”.

Gần cuối ngày họp, 10-4-1958, công an Hà Nội bắt giam Nguyễn Hữu Đang, Thụy An và Trần Thiếu Bảo. Ngày 4-6- 1958, truớc Hội nghị Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Van học Nghệ thuật, Tố Hữu, nguời chủ trì chiến dịch ấp Thái Hà dã “tổng kết cuộc dấu tranh chống Nhân Van Giai Phẩm”33. Bài “tổng kết” của Tố Hữu duợc ví nhu một “cáo trạng”, nhu một “nhát guom chính thức kết liễu số phận Nhân Van Giai Phẩm trên công luận với sự hằn học ghê gớm của một tên dao phủ”34.

Ngày 5-6-1958, duới sự chủ trì của Tố Hữu, “800 van nghệ sỹ” dã ký vào một nghị quyết “hoan nghênh kết quả thắng lợi của cuộc dấu tranh chống Nhân Van Giai Phẩm”. Ngày 7-7-1958 Ban

Chấp hành Hội Nhà van ra thông báo “kỷ luật nhóm Nhân Van”35. Số van nghệ sỹ, gọi là “tham gia Nhân Van Giai Phẩm” tại Hà Nội do Bộ Công an và Công an Hà Nội quản lý, khoảng 170 nguời36. Số bị xử lý nặng khoảng gần 100 nguời, còn “số bị dua vào danh sách dể phân loại xử lý tính trên toàn miền Bắc ở tất cả các linh vực phải tới hàng ngàn”37.

Nguời nặng thì bị di tù, nhẹ hon thì di cải tạo lao dộng trong vòng từ ba dến sáu tháng tại các nhà máy, nông truờng, hợp tác xã. Một số van nghệ sỹ phải cu trú lâu dài tại các dịa phuong nhu Hoàng Tố Nguyên, Nguyễn Bính, Hải Bằng, Trần Lê Van, Nguyễn Khắc Dực… Đầu nam 1961,

Phùng Cung bị bắt, do: “Tiếp tục sáng tác các truyện ngắn có nội dung bất mãn, chống dối, phản dộng”. Lê Đạt gọi thời kỳ “hậu Nhân Van” là những ngày “khôn ngoan không dám làm nguời”. Phần lớn các nạn nhân, vốn là những van nhân tài hoa, dều phải cúi dầu, tự mình viết bài xỉ vả mình38. Họ duợc ở lại Hà Nội và sau một thời gian lao dộng phần lớn duợc trở lại hành nghề. Cung có những nhà van, nhà tho bỏ về rừng nhu Hữu Loan, Nguyên Hồng. Nhung, cái giá mà họ và gia dình họ phải trả là vô cùng dau dớn.

Theo Nguyên Ngọc: “Sau một dêm, Nguyên Hồng vứt hết chức tuớc, tem phiếu, dua gia dình về dịnh cu ở vùng Yên Thế. Ông nói: tao không choi duợc với chúng mày nữa”. Hữu Loan bỏ Hà

Nội về quê Thanh Hóa. Từ dó, tác giả bài tho Màu Tím Hoa Sim di thồ dá, nguời vợ hiền của ông vừa cày hai sào ruộng vừa xay bột làm bánh. Ba nguời con trai lớn thì hàng ngày phải dậy từ ba giờ sáng, kéo ba chuyến xe cải tiến chở dá từ trên núi xuống hồ cách hai cây số bán rồi mới an vội bát com dộn dể chạy bộ bảy cây số di học. Vì lý lịch cha mẹ mà một nguời con của Hữu Loan thi dạt diểm du học nuớc ngoài vẫn không duợc di, những nguời con khác của ông cung không ai duợc vào dại học.

Tố Hữu gọi Van Cao, tác giả của Quốc Ca, là một dảng viên mang “chủ nghia cá nhân”, “chịu ảnh huởng nặng nề của tu tuởng chính trị dối dịch và duờng lối van nghệ tu sản trụy lạc, dã câu kết và tích cực giúp sức cho bọn phá hoại hoạt dộng, làm ‘tay trong’ cho chúng”39. Tháng 11-

1959, Van Cao “duợc phân công dịch sách tại garage Hội Nhà van cùng với Lê Đạt, Phùng

Cung, Nguyễn Khắc Dực”. Nam 1960, có hai lần ông bị dua di cải tạo lao dộng tại khu gang thép Thái Nguyên, tháng 8 ốm nặng, duợc về. Từ dó, sống âm thầm tại Hà Nội bằng nghề dịch sách và tô ảnh màu, dứng ngoài mọi sinh hoạt van nghệ chính thống”40.

“Van Cao bị một ám ảnh là luôn luôn thấy có nguời theo dõi. Tâm trạng bệnh tật. Càng ngày càng bất mãn”41. Ngày 18-10-1959, Nguyễn Huy Tuởng gặp Van Cao: “Khổ vì tập Vạch Mặt Nhân Van nêu tên Van Cao từ dầu chí cuối. Bị thành kiến. Trong khi dó thì ốm, chỗ dạ dày bị mổ thỉnh thoảng lại dau… Phải nuôi mẹ già và một em. Khổ nhất là có một dứa con mới dẻ, lao. Tốn vào dó. Không di dâu duợc. Rom rớm nuớc mắt nói: vợ lại chửa. Vẫn phải di làm dể nuôi thân. Van Cao phải ở nhà ẵm con. Bấn không di dâu duợc. Lo cái chết truớc mặt. Thấy có nhiều khả nang dể làm việc, và thấy phải làm việc, làm một cái gì. Suốt ngày dánh dàn. Nhung khuya, vợ hét”42.

Tác giả của những câu tho: Y êu ai cứ bảo là yêu/ Ghét ai cứ bảo là ghét/ Dù ai ngon ngọt nuông chiều/ Cung không nói yêu thành ghét./ Dù ai cầm dao dọa giết/ Cung không nói ghét thành yêu…”, ông Phùng Quán, dã phải mất hai thập kỷ sống bằng “cá trộm, van chui, ruợu lủi”, có lúc dã dịnh tự sát, không dám làm dám cuới vì không có tiền và vì… không ai dám in tên một “tên Nhân Van” lên… thiệp cuới.

Nguyễn Hữu Đang duợc coi là nguời Việt Nam duy nhất không hề nếm mùi “chiến tranh chống Mỹ”. Ông bị bắt từ nam 1958, bị dua lên một nhà tù ở tận Hà Giang cho dến nam 1973. Nam 1930, Nguyễn Hữu Đang cung từng bị thực dân Pháp bắt khi hoạt dộng trong Hội Sinh viên thị xã Thái Bình, một tổ chức của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội43. Khi dó, ông thoát án

giam vì chua tới tuổi thành niên. Nhung sau “Cách mạng”, ông dã bị tù dày không một ngày ân

xá.

Nam 1973 ra tù, Nguyễn Hữu Đang bị dua trở lại quê cu Thái Bình, làm ruộng. Giữa thập niên 1985, ông lại bị bắt và bị tạm giam bốn tháng vì “tự tiện sang Nam Định không có giấy di duờng, dến nhà một dối tuợng mà công an dang theo dõi”44. Nguyễn Hữu Đang – nguời xây dài Độc lập, dể trong ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh dứng truớc nhân dân tuyên ngôn về tự do – kể từ khi duợc tạm tha, duợc “sống trong trại lợn của hợp tác xã”.

“Tội” của Nguyễn Hữu Đang là dã dích thân bán từng bộ áo quần lấy tiền dể nhóm Nhân Van ra báo45 dang những ý kiến tâm huyết dề nghị Đảng xây dựng một nền pháp trị thay cho dảng trị; dề nghị nhà nuớc “cần phải chính quy hon”46.

Thời hoạt dộng công khai, Nguyễn Hữu Đang từng “an vận sang trọng nhu công tử loại một của Hà thành, thắt cà vạt dỏ chói, di khắp Trung Nam Bắc diễn thuyết, oai phong, hùng biện, có thể dến bất kì một nhà tu sản Hà Nội giàu có nào, vay vàng, tiền cho cách mạng mà những nguời trao vàng, tiền cho anh dều không dòi hỏi một thứ giấy tờ gì”47. Nguyễn Hữu Đang của nam 1988, khi Phùng Quán dến Thái Bình tham, không vợ, không con, không cửa không nhà, rách ruới và tiều tụy48.

Vụ “Nhân Van Giai Phẩm” từ lâu bị coi nhu là một vụ án van chuong và gần nhu chỉ có số phận các nạn nhân nhà van là duợc quan tâm. Trong khi dó, theo Đại tá Thái Kế Toại: “Các dợt học tập chỉnh huấn tại các truờng Su phạm và Tổng hợp Hà Nội các Giáo su Nguyễn Mạnh Tuờng, Đào Duy Anh, Truong Tửu, Trần Đức Thảo cung bị dua ra cho giáo viên và sinh viên dấu tố, bị miễn nhiệm thôi giảng dạy. Ngoài ra còn nhiều nguời khác cung chịu kỷ luật nhu Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Cao Xuân Huy. Một số sinh viên cung bị kỷ luật nhu Bùi Quang Đoài (Thái Vu), Van Tâm, Phan Kế Hoành, Hà Thúc Chỉ”.

Trong thập niên 1950, dại học Việt Nam có duợc những trí thức uu tú nhất của nền giáo dục Pháp. Giáo su Hoàng Tụy dang dạy toán ở Đà Nẵng dã ra Việt Bắc chỉ vì nghe ở dó có nhà toán học Lê Van Thêm bỏ Pháp về Việt Nam theo kháng chiến. Nhiều sinh viên, giảng viên dại học chỉ mong duợc nhìn thấy những trí thức tên tuổi nhu Nguyễn Mạnh Tuờng, Trần Đức Thảo.

Mô hình tự chủ dại học duợc Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Truong Tửu chủ truong từ rất sớm. Nguời dứng dầu ngành dại học lúc dó là Tạ Quang Bửu muốn xây dựng một nền dại học tạo co hội nhu nhau cho mọi nguời nhung từ chối thêm diểm vào dại học cho giai cấp công, nông.

Quan diểm của ông bị phê phán là “tinh hoa chủ nghia”. Chỉ vì ủng hộ những quan diểm này mà Giáo su Hoàng Tụy dã bị kiểm diểm tới…tám muoi cuộc.

Sau những cuộc dấu tố liên miên dó, nhiều giáo su nhu Trần Đức Thảo, Lê Van Thêm dã luôn bị tự kỷ ám thị. Đêm dêm, Giáo su Trần Đức Thảo vẫn nằm duới gậm giuờng vì sợ. Còn Nguyễn Mạnh Tuờng thì từ nam 1958 không những bị tuớc hết mọi chức vụ mà hon ba muoi lam nam, vị luật su tài ba có hai bằng tiến sỹ Pháp ấy và gia dình dã phải sống trong dói khát.

Nam hai muoi hai tuổi, Nguyễn Mạnh Tuờng dã bảo vệ thành công luận án tiến si luật tại Đại học Montpellier. Một tháng sau, ông bảo vệ thành công luận án tiến si van chuong. Khi Nguyễn Mạnh Tuờng “vinh quy”, nguời Pháp dã gặp và gợi ý dua ông vào làm thuợng thu trong Triều Bảo Đại nhung ông từ chối.

Những nguời nhu Nguyễn Mạnh Tuờng, Trần Đức Thảo có thể dã trở thành những trí thức duợc sủng ái nếu nhu không lên tiếng phê bình những sai lầm của chế dộ49.

Lúc còn học ở truờng Albert Sarraut, Trần Đức Thảo dã dể lại không ít huyền thoại về sự thông minh. Ông dỗ tú tài triết học nam 1935, và nam sau ông dỗ dầu trong kỳ thi vào truờng Normale Superieure của Pháp. Trần Đức Thảo tốt nghiệp thạc si triết học hạng nhất tại Pháp nam 1942, khi mới hai muoi lam tuổi. Ông duợc nhiều thế hệ trí thức Việt Nam nguỡng mộ từ huyền thoại “kết thúc cuộc tranh luận với nhà hiện sinh Jean-Paul Sartre trên thế thắng”.

Sau Hội nghị Fontainebleau, Hồ Chí Minh dã tìm gặp và dề nghị Trần Đức Thảo về Việt Nam. Cuối 1951, sau khi lấy xong tiến sỹ, vì say mê chủ nghia Marx, Trần Đức Thảo dã về nuớc theo hành trình Paris – London – Praha – Moscow – Bắc Kinh – Tân Trào. Thế nhung, khi cùng tham gia viết về dân chủ trên báo Nhân Van, Trần Đức Thảo dã bị Tố Hữu xếp chung với “bọn gián diệp, phản dộng”50. Báo Nhân Dân sau dó dã dang nhiều bài báo bôi nhọ ông51.

Cho dù dã phải “khấu dầu tạ tội”52 trên báo Nhân Dân, Trần Đức Thảo vẫn bị “dua ra khỏi biên chế” nhà nuớc, phải “cải tạo tu tuởng” bằng nhiều tháng di lao dộng ở Tuyên Quang, phải di chan bò ở nông truờng Ba Vì. Đã có những lúc triết gia nổi tiếng Paris này phải di vác từng bao bột mì dể nhận lại vài ổ bánh mà sống53.

Những nguời uu tú nhất bị dặt ra ngoài cuộc nhu Lê Van Thiêm, Nguyễn Mạnh Tuờng, Trần Đức Thảo. Con cái các nhà tu sản, dịa chủ, con cái của những nguời bị chế dộ coi là có vấn dề dều không duợc vào dại học. Nhung nền giáo dục sau Cách mạng tháng Tám 1945 không chỉ chịu những tổn thất ấy. Sau vụ án Nhân Van-Giai Phẩm, nhiều thế hệ sinh viên, học sinh Việt

Nam dã duợc dạy dỗ trong một nền giáo dục gần nhu chỉ biết vâng lời. Nền van học, nghệ thuật, báo chí và tinh thần tự do vừa mới dịnh hình hồi cuối thập niên 1930, dầu thập niên 1940, dang khao khát truởng thành thì nhận duợc “vết chém ngang lung”54. Chính trị và các tác phẩm hiện thực xã hội chủ nghia bắt dầu ngự trị các chuong trình giảng dạyvan chuong, nghệ thuật. Những giá trị can bản của nguời Việt Nam không chỉ bị phá vỡ ở “thuợng tầng”, từ trong từng ngõ ngách làng xã, trong mỗi gia dình cung dã nhận duợc biết bao bi kịch.

Miền Nam “giải phóng”

Thật khó có thể hình dung diều gì sẽ xảy ra cho miền Bắc Việt Nam nếu nhu không có sự kiện

30-4-1975. Cuộc chiến duợc nói là dể giải phóng miền Nam dã thực sự mở mắt cho nguời dân miền Bắc. Tuy chính quyền miền Nam tìm mọi cách dể hạn chế báo chí dối lập, nhung Sài Gòn truớc ngày 30-4 vẫn là một noi có luật pháp dể phục vụ quyền tự do ngôn luận.

Những tờ tạp chí in bốn màu, những bộ tiểu thuyết diễm tình, dồng hồ Seiko, máy nghe nhạc cassette, akai, tivi, tủ lạnh và những con búp bê biết khóc duợc các anh bộ dội dua về dã dánh thức nhu cầu van hóa của nguời dân miền Bắc. Miền Nam bắt dầu có vô tuyến truyền hình từ nam 1965, truớc miền Bắc hon một thập niên. Nhung diều quan trọng là các chuong trình phát thanh, truyền hình ở miền Nam duợc phát di một cách da dạng và phong phú.

Công cuộc giải phóng nào cung phải mất thời gian. Những chuyển dộng của diện ảnh, sân khấu, van chuong, báo chí không xuất hiện ngay sau 1975, nhung nó âm ỉ từ bên trong, thay dổi dần dần và can bản.

Có lẽ vì sự thay dổi chế dộ ở Sài Gòn trong ngày 30-4-1975 duợc tiến hành bằng những chiếc tang T54 thay vì bằng một hiệp dịnh dình chiến nhu Hà Nội vào nam 1954; cung có lẽ bởi nguời Sài Gòn dã học duợc bài học “Nhân Van Giai Phẩm”; nên, kể từ ngày 30-4-1975, không hề có bất cứ một nhà xuất bản, một tờ báo tu nhân nào còn hoạt dộng, cho dù ở Sài Gòn truớc dó có hon hai muoi tờ nhật báo, hàng tram tạp chí và nhà xuất bản. Một số lớn van nghệ sỹ, dội ngu báo chí Sài Gòn kịp di tản truớc khi quân dội miền Bắc kéo vào. Số ở lại cho dù không phải di cải tạo thì sự nghiệp của nhiều nguời cung coi nhu chấm dứt.

Ngày 23-4-1975, Tố Hữu thay mặt Ban Bí thu diện vào Trung uong Cục: “Đề nghị các anh cho chuẩn bị khẩn truong dể kịp ra báo Cờ Giải Phóng ngay từ dầu khi mới giải phóng Sài Gòn”55. Tuy tờ Cờ Giải Phóng sau dó không ra kịp ngày “Sài Gòn giải phóng”. Nhung, không chỉ có hai phát thanh viên mặc quân phục xuất hiện trên dài truyền hình vào tối 1-5-1975, một thế hệ những

nguời viết mặc áo lính, theo các cánh quân từ R kéo về hoặc từ miền Bắc lần luợt duợc diều vào, dã “cách mạng triệt dể” nền báo chí Sài Gòn, nền báo chí dã có tờ báo dầu tiên từ 110 nam truớc dó.

Ngày 1-5-1975, ông Võ Van Kiệt triệu tập một nhóm cán bộ tuyên huấn, báo chí gồm Tô Hòa, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Thành Lê,… dến truờng Petrus Ký, noi Đảng ủy Đặc biệt của Ủy ban Quân quản Sài Gòn dang tạm dóng. Cuộc họp di dến thống nhất, Đảng bộ Thành phố sẽ ra một tờ báo lấy tên là Sài Gòn Giải Phóng. Tuyên huấn Trung uong Cục tạm thời làm “chủ quản”. Lê Điền, một cán bộ của báo Nhân Dân, làm tổng biên tập. Nguyễn Thành Lê phụ trách nội dung.

Ngày 5-5-1975, Sài Gòn Giải Phóng ra số dầu tiên, chủ yếu dang lại những mệnh lệnh của Ủy ban Quân quản. Sau muời hai số báo dầu tiên, Sài Gòn Giải Phóng duợc giao về cho Thành ủy. Tổng biên tập thứ hai của báo là ông Võ Nhân Lý, thuờng gọi là Bảy Lý, một nguời tâm phúc của ông Nguyễn Van Linh, có nhiều nam làm phó cho ông Linh ở Ban Tuyên huấn Trung uong Cục. Ngoài truyền hình và phát thanh, báo chí cách mạng xuất bản tại Sài Gòn ngay sau 30-4- 1975 còn có: Giải Phóng, một tờ báo dã từng duợc in ấn ở Chiến khu D, Phụ Nữ Thành Phố, 17- 5-1975, Công Nhân Giải Phóng, 28- 7-1975, Tuổi Trẻ, 2-9-1975. Đội ngu van nghệ sỹ, báo chí từ Việt Bắc trở về Hà Nội nam 1954 và tạo ra một phong trào “Nhân Van” gồm những nguời trở về từ một cuộc chiến tranh giành dộc lập, tiếp tục khát vọng dân chủ tự do. Còn dội ngu từ R hoặc từ miền Bắc trở về Nam nam 1975 dã thấm nhuần chủ nghia Marx-Lenin. Đúng nhu Tố Hữu viết trong công diện ngày 23-4-1975, họ là một thế hệ “cán bộ viết báo”56.

Về Sài Gòn, nhiều nguời trong số những “cán bộ viết báo” ấy tiếp tục làm báo với tu thế của những nguời chiến thắng. Những nguời chiến thắng chua muốn chấm dứt cuộc chiến “ai thắng ai” với “ngụy quân, ngụy quyền”, với “tu sản mại bản”, và các “tàn du của chế dộ cu”. Nhiều báo vẫn lấy những bài vở duợc sản xuất từ bộ máy tuyên huấn R57.

Sau khi các tờ báo quốc doanh dã hoạt dộng ổn dịnh, Bí thu Đảng ủy Đặc biệt Ủy ban Quân quản Võ Van Kiệt triệu tập một cuộc họp, nêu yêu cầu: “Thành phố cần phải cho ra một số tờ báo tu nhân”. Theo ông Tô Hòa, nguời phụ trách nội dung từ số 13 của tờ Sài Gòn Giải Phóng: “Kể từ khi từ miền Bắc trở về, tôi chua từng nghi là mình lại có báo tu nhân, nhung tu tuởng của Sáu Dân là nhu vậy. Trung uong Cục và Thành ủy bàn tới, bàn lui cuối cùng quyết dịnh sẽ cho ra ba tờ báo tu nhân: một tờ sẽ giao cho nhóm Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, một tờ giao cho ông Nam Đình, tờ thứ ba lúc bấy giờ chua biết giao cho ai cả”58.

Cho tới lúc dó, ông Võ Van Kiệt và những dồng chí khác của ông nhu Nguyễn Van Linh, Trần Bạch Đằng chua thực sự làm việc trong môi truờng xã hội chủ nghia. Sự nghiệp của họ là vận hành cuộc chiến tranh ở miền Nam cả bằng dấu tranh võ trang và dấu tranh chính trị, bao gồm cả những công cụ nhu biểu tình, báo chí. Họ hiểu khá rõ sự khác biệt giữa các nhóm dân chúng miền Nam dối với chế dộ mới và nhận thức duợc vai trò của báo chí trong việc thuyết phục các tầng lớp dân chúng ủng hộ công cuộc của những nguời cách mạng. Theo ông Võ Van Kiệt: “Ý tuởng cho ra báo tu nhân duợc anh Lê Đức Thọ và anh Lê Duẩn ủng hộ”.

Thế nhung phía “tu nhân” lại không nồng nhiệt dón nhận sáng kiến này. Nhóm Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Duong Van Ba vốn là những nghị sỹ dối lập với chính quyền Sài Gòn thì nhận lời. Trong khi dó Nam Đình, một “Việt Cộng nằm vùng”, thì từ chối. Theo ông Tô Hòa: “Nam Đình giải thích: tôi, chính trị không biết, làm báo kiểu này trên de duới búa thôi!”. Ông Tô Hòa nhận xét: “Nam Đình chỉ cần nói thế dủ thấy ông ta hiểu chế dộ mới và rất cáo già về chính trị”.

Ba tháng sau, chính quyền thuyết phục duợc hai nhóm nhân sỹ nhận giấy phép ra báo tu nhân: Nhóm linh mục khuynh tả Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, làm tờ Đối Diện truớc 1975, nhận Giấy phép số 0159, ngày 4-7-1975, ra tờ bán nguyệt san Đứng Dậy. Cùng ngày 4-7-1975, nhóm linh mục Truong Bá Cần, Huỳnh Công Minh nhận Giấy phép số 02, ra tờ Công Giáo & Dân Tộc. Phải tới ngày 22-7-1975, nhóm dân biểu dối lập Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, mới nhận Giấy phép số 03 ra tờ Tin Sáng.

Ông Hồ Ngọc Nhuận nhớ lại: “Tôi và Ngô Công Đức gặp nhau sớm. Chúng tôi cung rất bối rối vì tình hình mới chua hiểu sẽ nhu thế nào. Nhung, dích thân ông Võ Van Kiệt gặp nói: Anh Sáu Thọ cung rất sốt ruột”. Theo ông Nhuận: “Khi tình hình chua ổn dịnh, chính quyền muốn có một tờ báo duợc lòng quần chúng mà thân mấy ổng. Tôi hỏi: làm thì làm nhu thế nào? Trần Bạch Đằng bảo: làm y nhu cu”.

Đúng nhu nhận xét của Giáo su Trần Van Giàu: “Các anh làm báo cộng sản nhu… cộng sản”. Ngay từ những ngày dầu, Tin Sáng dã hang hái tham gia các “chiến dịch” nhu tập trung cải tạo, dổi tiền và dánh tu sản mại bản. Đặc biệt, tháng 9- 1975, Hồ Ngọc Nhuận duợc dua ra Hà Nội trong “Đoàn dại biểu miền Nam dự Hội nghị Hiệp thuong Thống Nhất”. Khi trở về, trong bài Đi Tham Một Làng Quê Miền Bắc, ông Nhuận viết: “Chúng tôi tin rằng, dộc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc phải duợc gắn liền với chủ nghia xã hội”60.

Chủ nghia xã hội là một thực thể chỉ có thể hiểu duợc một cách dầy dủ bằng sự trải nghiệm. Nếu nhà van Pháp có khuynh huớng cộng sản, A. Gide (1869-1951), nam 1936 không tới Liên Xô thì có thể ông dã không viết sách chỉ trích Liên Xô. Nếu Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Ngọc Lan không làm báo sau 1975 thì không thể hiểu dầy dủ “tự do báo chí” duới thời Cộng sản.

Truớc nam 1975, trong muời nam, có 360 lần tờ Tin Sáng bị tịch thu báo, sáu lần bị dóng cửa. Nhung, cho dù hà khắc, Sài Gòn vẫn là một chế dộ có luật pháp. Những bài báo có khuynh huớng ủng hộ Mặt trận Giải phóng và chống Mỹ có thể bị kiểm duyệt. Nhung một nhà báo thuờng viết cho không chỉ một tờ và các chủ báo, dặc biệt là các chủ báo chính trị nhu Hồ Ngọc Nhuận, thuờng có dôi ba tờ báo, nên chính quyền thu tờ này thì viết lên tờ kia phản dối.

Nam 1969, khi Hồ Chí Minh từ trần, ngay giữa Sài Gòn, tờ Đất Nuớc dám ra một số riêng cho “nguời nằm xuống”, với tất cả các bài viết trong dó dều nói về Hồ Chí Minh, “kẻ thù” của chính quyền miền Nam. Sau Hiệp dịnh Paris, linh mục Truong Bá Cần còn có thể cho dang trên tờ Đối Diện bài viết “Hai muoi nam xây dựng xã hội chủ nghia ở miền Bắc”. Còn Giáo su Nguyễn Van Trung thì viết trên tờ Đất Nuớc: “Cộng sản, nguời anh em của tôi”. Tháng 3-1975, trên tờ Đối Diện, hai vị Linh mục Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan dám vẽ bản dồ Việt Nam, dánh dấu những noi dã nằm trong tay quân miền Bắc rồi chú thích: “Này anh em oi/ Quốc gia dến ngày giải

phóng”61.

“Giải phóng” xong, dội ngu làm báo từ truớc 30-4-1975 bắt dầu tan tác: một số kịp di tản, một số bị dua di cải tạo hoặc bị bắt do tham gia các “tổ chức phản dộng”, số có may mắn duợc làm báo nhu Đối Diện, Tin Sáng chỉ chiếm một phần rất nhỏ nhoi. Những nguời làm báo chí, phát thanh, truyền hình quân dội nhu Phan Lạc Phúc, Tô Thùy Y ên phải di cải tạo từ muời dến muời ba nam. Nhà báo Trần Tuấn Nhậm, một trong những nguời chủ truong làm tờ Trình Bầy, nam 1971, khi ra tranh cử nghị sỹ dã dùng khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nuớc” với tranh minh hoạ hình Nixon vẽ râu Hitler. Nam 1979, ông Nhậm vuợt biên nhung bị bắt, và sau dó chết trong trại giam Bến Sắn.

Nhà báo Nguyễn Khắc Nhân, thu ký tờ Tiền Tuyến, chỉ phải di cải tạo một nam nhờ có anh rể là Truởng ban Tuyên huấn Thành ủy Trần Trọng Tân. Nhung khi vừa từ trại về, ông Nguyễn Khắc Nhân dã duợc anh rể lấy tình thân nói thẳng: “Cậu làm tờ báo phản dộng nhất miền Nam, cậu không thể nào làm báo duới chế dộ này duợc”.

Chính quyền mới không có chế dộ kiểm duyệt báo chí. Thậm chí khi Tin Sáng làm công van xin Ban Tuyên huấn dua nguời tới viết xã luận và duyệt bài, chính quyền cung không thèm cử nguời. Trong khi dó, Thành ủy lại còn “cham sóc về vật chất rộng rãi hon” so với nhiều ngành nghề hoạt dộng khác: “Riêng về xang, ta dã cung cấp cho họ mỗi quý hon 7.000 lít nam 1979, và 5.650 lít nam 1980”62.

Nhung, trong nội bộ tờ báo, an ninh dã cài vào không ít dặc tình63. Trong một báo cáo gửi “anh Sáu Dân, anh Chín Đào”, Van phòng Thành ủy dãyêu cầu: “Co quan an ninh cần tang cuờng các biện pháp nghiệp vụ chặt chẽ hon và tinh tế hon nữa, dể nắm chắc mọi hoạt dộng của các dối tuợng trọng diểm trong Tin Sáng”64. Nhiều bài viết của tờ báo này bị phát hiện ngay khi chua kịp lên khuôn.

Tu Trời Biển Ngô Công Đức truớc 1975 dám viết bài dả kích tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Cung Tu Trời Biển ấy, nam 1979, chỉ dịnh viết bài cho báo Tết nhân danh bà hàng xóm uớc mong: “Ngày mồng Một ra duờng duợc gặp một nụ cuời xuân, Nụ cuời xuân nở trên môi anh cảnh sát”65, dã lập tức bị “dặc tình” tố cáo. Ngày 11-1-1979, Phòng An ninh Bảo vệ Co quan Van hóa PA 25 dã gửi công van khẩn lên Thành ủy, “yêu cầu xử lý” 66 Tu Trời Biển vì cho rằng bài báo ám chỉ “xã hội ngày nay mất cả nụ cuời”.

Nam 1978 tờ Đứng Dậy phải dóng cửa67. Cuộc choi báo tu nhân còn kéo dài tới nam 1981. Nhung, Hồ Ngọc Nhuận thừa nhận không làm báo ở dâu cang thẳng nhu làm báo trong chế dộ xã hội chủ nghia.

Khác với bán nguyệt san Đứng Dậy, Tin Sáng là tờ nhật báo có luợng dộc giả lớn nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh lúc bấy giờ. Bạn dọc của Tin Sáng là một tầng lớp công chúng mà chính quyền vừa e ngại vừa muốn chinh phục. Tháng 4- 1981, tại Hội nghị Công tác Tu tuởng toàn quốc, Lê Đức Thọ nêu một số dấu hiệu dáng lo trên tờ Tin Sáng.

Ngày 23-4-1981, Van phòng Thành ủy dự thảo một bản báo cáo dể ông Võ Van Kiệt gửi Trung uong 68. Cho dến lúc này, ông Võ Van Kiệt và Thành ủy vẫn muốn “tiếp tục duy trì tờ Tin Sáng với bề ngoài nhu hiện nay dể phục vụ một cách có lợi nhất cho yêu cầu chính trị của ta nhằm tuyên truyền tác dộng một cách có hiệu quả vào một số dối tuợng quần chúng mà một tờ báo Đảng công khai thâm nhập vào khó hon, ít tác dụng hon”69.

Tuy nhiên, ngay trong báo cáo ngày 23-4-1981, Thành ủy dã lo rằng: “Hoạt dộng của họ bộc lộ ý thức gây ảnh huởng, tạo thế chính trị trong trí thức, nhân si, Việt kiều và cả trong một số cán bộ

trí thức của ta”. Cung trong nam 1981, lực luợng Công doàn Đoàn kết liên tục tổ chức biểu tình ở Ba Lan, cho dù quân dội Ba Lan dã bỏ tù hàng nghìn nguời trong dó có Lech Walesa và thiết quân luật trên toàn quốc. Sự kiện Công doàn Đoàn kết dã dặt Hà Nội trong một sự cảnh giác cao dộ hon. Thuờng vụ Thành ủy sợ rằng: “Nếu có tình hình dột biến do dịch gây ra, thì Tin Sáng có thể gây tác hại, vì những nguời cầm dầu này chua phải là nguời dã nhập cuộc với chế dộ ta, tuy họ có thể viết nhiều bài ca ngợi chế dộ, ca ngợi chủ nghia xã hội”70.

Tháng 6-1981, ông Võ Van Kiệt di Hà Nội. Sau khi gặp trực tiếp Tố Hữu và ông Truờng Chinh, ông Kiệt nhận rõ “thái dộ với Tin Sáng” của Trung uong là rõ ràng và ý kiến “chấm dứt hoạt dộng Tin Sáng” của ông Truờng Chinh phải duợc hiểu là một quyết dịnh thay vì một lời gợi ý. Sáng sớm ngày 29-6-1981, ông Võ Van Kiệt cho mời ban lãnh dạo Tin Sáng lên gặp. Ngô Công Đức và Duong Van Ba di. Ông Kiệt nói ngắn gọn: “Các anh ở Hà Nội có ý là Tin Sáng nên ngung. Nhung, ngung ngay hay kéo dài thêm một tháng dể chuẩn bị du luận thì các anh Tin Sáng cho ý kiến”. Cả Duong Van Ba và Ngô Công Đức lập tức dồng ý ngung ngay. Hồ Ngọc Nhuận khi nghe báo lại cung tán thành. Sau gần sáu nam làm báo cộng sản cả ba dã vô cùng mệt mỏi. Trong một hội nghị cán bộ, diễn ra ngay trong sáng 29-6-1981, sau khi thừa nhận những dóng góp của Tin Sáng, ông Võ Van Kiệt giải thích: “Chúng ta dã xác dịnh kinh tế còn nam thành phần, nhung van hóa chỉ có một là van hóa dân tộc và xã hội chủ nghia. Đã dến lúc tất cả những tiếng nói dều phải là tiếng nói yêu nuớc yêu chủ nghia xã hội dể chiến dấu và chiến thắng, không có tiếng nói khác duợc”71.

Trong “Thu gửi bạn dọc”, dang trong số báo “hoàn thành nhiệm vụ” ra ngày 30-6-1981, Ngô Công Đức viết: “Chia tay, bạn dọc cung nhu anh chị em Tin Sáng dều có những ngậm ngùi của tình cảm. Nhung chia tay ở dây dể sẽ còn gặp lại ở một vị trí mới, trong cái chiến tuyến chung của tổ quốc xã hội chủ nghia của chúng ta”72. Trong các “công diện mật” trao dổi giữa Thuờng vụ Thành ủy và Ban Bí thu sau ngày 29-6-1981, chính quyền tỏ ra hài lòng với phản ứng của những nguời làm Tin Sáng73.

Tờ báo bị dóng cửa nhung dội ngu nhà báo giàu kinh nghiệm ở dó dã duợc ông Võ Van Kiệt thu xếp dua về các tờ báo của Thành phố nhu Tuổi Trẻ, Phụ Nữ và cả tờ Sài Gòn Giải Phóng. Họ dã trở thành nòng cốt trong việc tạo ra một môi truờng báo chí thực sự trong các tờ báo của Sài Gòn, dặc biệt là tờ Tuổi Trẻ 74. Truớc dó, trong van học, nghệ thuật cung dã âm thầm chuyển dộng. Trong những thời khắc bị dua tới tận cùng, lịch sử, tự thân nó, lại thai nghén những nhu

cầu thay dổi. Cuối thập niên 1970 trí thức, van nghệ sỹ miền Bắc bắt dầu suy ngẫm về những giá trị mà họ có thể tiếp cận ở miền Nam, qua sách báo, tivi, tủ lạnh. Trong khi tại Sài Gòn, Vu Hạnh, Trần Trọng Đang Đàn, Thạch Phuong, Trần Van Giàu… 75 viết sách, viết báo, lang mạ van nghệ sỹ miền Nam thì ở miền Bắc, thanh niên bắt dầu tìm dọc các tác phẩm của họ. Từ truớc khi chiến tranh kết thúc, nhiều nhà van miền Bắc dã thay dổi cách nhìn hiện thực và có không ít nguời cảm thấy xấu hổ với những trang viết của mình.

Nam 1969, khi viết Dấu Chân Nguời Lính, thông qua bi kịch của một nhân vật là dại dội truởng Việt Cộng yêu một phụ nữ từng có chồng là “lính ngụy”, Nguyễn Minh Châu dã nhận ra, có những vùng “dất giải phóng” nhung con nguời vẫn không duợc giải phóng. Nam 1972, khi viết Lửa Từ Những Ngôi Nhà, Nguyễn Minh Châu cảnh báo: một nguời hùng trong chiến tranh, khi trở về có thể thành nguời dốn mạt!

Cung trong nam 1972, Hoàng Cát viết Cây Táo Ông Lành; Nguyễn Đỗ Phú viết Một Đêm Đợi Tàu, dua ra một cách tiếp cận khác về chiến tranh. Nam 1974, Ngô Van Phú có Sẹo Đất, Vu Tú Nam có Cảm Hứng, Nguyễn Khải có Đối Mặt và dặc biệt Phạm Tiến Duật có Vòng Trắng, với những câu tho mô tả chiến tranh thật hon: “Khói bom lên trời thành những vòng den/ Và duới mặt dất sinh ra bao vòng trắng/ Tôi với bạn tôi di trong im lặng/ Khan tang trên dầu nhu một số

không”.

Ở thời diểm này, những tác phẩm dó dã bị coi là có “không khí nhân van mới”. Cách mô tả nông thôn miền Bắc qua câu chuyện của hai nguời lính trong Một Đêm Đợi Tàu dã bị Truờng Chinh phản ứng. Hoàng Cát khốn khổ vì Cây Táo Ông Lành. Lành là bí danh của Tố Hữu còn cây táo, thì ai dã từng học phổ thông ở miền Bắc cung dều biết cây táo dầu nhà Tố Hữu lúc nào cung “rung rinh quả ngọt”. Cám cảnh truớc sự bầm dập của Hoàng Cát – một thuong binh cụt chân, các dồng nghiệp của ông dã nhắn Tố Hữu bằng tho: “Hoàng Cát không làm gì hung/ Anh Lành chớ gây diều dữ”.

Phạm Tiến Duật khi ấy, dang duợc “co cấu” làm lãnh dạo và dang nổi nhu cồn với những bài tho viết về Thanh niên xung phong, về “tiểu dội xe không kính”, dã bị theo dõi và có nguy co bị bắt. May mắn cho họ là Chiến thắng 30-4-1975 dã mang tới niềm vui nhu thác lu cho các nhà lãnh dạo dể “lỗi lầm” của các van nghệ sỹ tạm duợc quên di. Nhung dấy là một sự thức tỉnh chứ không chỉ là những phút giây xúc dộng. Tiểu thuyết Những Nguời Đi Từ Trong Rừng Ra và tập tiểu luận Trang Giấy Truớc Đèn của Nguyễn Minh Châu xuất bản sau nam 1975 bắt dầu cho

thấy một cái nhìn mới. Ông cho rằng: “Lâu nay ta viết về chiến tranh không thật. Ta không viết cái thực sự xảy ra mà viết cái ta muốn nó xảy ra”.

Nam 1979, khi lý luận hóa ý kiến của Nguyễn Minh Châu trong tiểu luận Về Một Đặc Điểm Van Hóa Nuớc Ta, nhà phê bình van học Hoàng Ngọc Hiến dã gọi diều mà Nguyễn Minh Châu phê phán là “chủ nghia hiện thực phải dạo”. Bài viết của Hoàng Ngọc Hiến bị dánh toi bời, vẫn bởi những “công cụ” mà Tố Hữu dã sử dụng thời “Nhân Van”. Hoàng Ngọc Hiến bị coi là “dã xúc phạm dến máu, dến một nền van học xây bằng máu dấu tranh cho dộc lập tự do”. Cung trong nam 1979, dời sống van nghệ xôn xao truớc bản “Đề dẫn” của Nguyên Ngọc. Khi Nguyên Ngọc, một nhà van quân dội deo quân hàm dại tá, duợc dua về truờng Nguyễn Ái Quốc, ông lọt vào

“mắt xanh” của Tố Hữu. Ở thời diểm này, Tố Hữu có ý dịnh thay thế số lãnh dạo nhà van từng lập công thời “Thái Hà ấp” nhu Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi bằng một thế hệ nhà van “truởng thành qua chiến tranh”. Nguyên Ngọc, nguời có muời ba nam ở chiến truờng miền Nam, duợc chọn.

Tháng 11-1978, ông duợc dua về làm phó tổng thu ký kiêm bí thu Đảng-Đoàn Hội Nhà van. Nguyên Ngọc gần nhu chắc chắn có một “ghế” ở Trung uong nếu ông thuận theo co cấu của Tố Hữu. Nhung, chua dầy hai tháng sau khi Nguyên Ngọc nhận chức, kế hoạch này dã phá sản vì bài phát biểu về sau gọi là bản “Đề dẫn” do Nguyên Ngọc dọc tại hội nghị dảng viên của Hội Nhà van bàn về sáng tác, tổ chức tại Hà Nội ngày 10-3-1979.

Trong bài “Đề dẫn” này, sau khi dánh giá lại chặng duờng gần hai muoi nam của van học Việt Nam là khá mờ nhạt, Nguyên Ngọc cho rằng sở di có sự “chậm trễ, thô thiển” kéo dài là do: “Phê bình, lý luận dã dung tục hóa mối quan hệ giữa hiện thực và van học, tuyệt dối hóa hiện thực, và kết quả là buộc van học phải khiếp nhuợc truớc hiện thực, nguời nghệ si phải khiếp nhuợc truớc dời sống. Nhu vậy thực chất là nó phủ nhận khả nang cải tạo trở lại hiện thực của con nguời, của van học. Nó hạ thấp van học xuống thành một sự sao chép hiện thực, coi giá trị van học cao nhất là làm sao cố sao chép cho dúng nguyên hiện thực”. Cung phê phán “chủ nghia hiện thực phải dạo”, nhung Nguyên Ngọc dã vuợt qua Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến khi chỉ ra can nguyên của nền van học xoay xở duới trần “thuợng tầng kiến trúc” của chủ nghia cộng sản.

Không phải tự nhiên mà Nguyên Ngọc kêu gọi trong van học phải nhận thấy “số phận con nguời”. Ông thừa nhận là dã nghi tới bản “Đề dẫn” này trong chuyến di của doàn nhà van Việt

Nam tới Campuchia ngay sau khi quân dội Việt Nam tràn vào thủ dô Phnom Penh, chứng kiến một dất nuớc phố không có số nhà, nguời không có số tù. Nguyên Ngọc nói: “Hitler nói là tàn bạo nhung vẫn cho mỗi nguời tù một con số, còn Pol Pot thì không. Ở Campuchia, nhân dân dã bị dảng cầm quyền biến thành vô danh tính. Tại sao chỉ có các quốc gia cộng sản mới có cách mạng van hóa và những cánh dồng chết”76.

Trong ba ngày dầu hội nghị, bản “Đề dẫn” dã tạo ra một không khí hân hoan. Nguyên Ngọc nhớ lại: “Chế Lan Viên hồ hởi còn Xuân Diệu thì nhảy cẫng lên”. Chế Lan Viên than: “Từ lâu, ta dã có Ba Giai, Tú Xuất, Học Lạc nhung ta dã giết nó rồi”77. Một nguời rất cứng rắn nhu nhà phê bình Vu Đức Phúc cung phải cho rằng: “Van học không chỉ phản ánh hiện thực cuộc sống mà còn di sâu vào khám phá quy luật bí ẩn của cuộc sống. Nhung ở nuớc ta có cái gì thoát khỏi duờng lối của Đảng ta không? Không. Cả khi con nguời di nghỉ, khi yêu nhau… cung thấy rõ các vấn dề duờng lối”78.

Nhà tho Bảo Định Giang ví dụ: “Tờ Tạp chí Van nghệ số 1 của Hội Van nghệ Bình Trị Thiên chỉ vì cái bìa vẽ một nhà ga không có nguời mà bị dình bản, Ban Bí thu Trung uong can thiệp. Ở một tỉnh Nam Bộ, dựng lại hình ảnh Nguyễn Đình Chiểu chiến dấu dến cùng, nhung không thắng, không cho diễn. Tỉnh ủy dòi tả Nguyễn Đình Chiểu phải thắng, lúc nào cung thắng. Vậy Nam Kỳ Khởi Nghia thì sao? Xô Viết Nghệ Tinh thì sao? Về quân dội, không duợc viết ta thua. Nhung ai dã từng tham gia chiến dấu dều biết ta cung thua nhiều lắm”79.

Nguyễn Đình Thi thừa nhận nguời trí thức có vấn dề khi ở trong chế dộ cộng sản. Ông nói: “Bài học cho nguời trí thức cộng sản thật khó khan. Ở Trung Quốc, sau 1949, những trí thức lớn không viết duợc gì: Mao Thuẫn, Ba Kim, Tào Ngu, Quách Mạt Nhuợc. Chỉ có một nguời viết duợc là Lão Xá. Ông là nhà van có tài nhất Trung Quốc… (Nhung), Lão Xá tự tử ở cầu Bắc Hải, noi ông bảo ông vào nghề van. Ở chủ nghia xã hội có những cái ghê gớm. Chúng ta nhìn lại, thấy mình còn may lắm”80.

Ngày thứ ba, Tố Hữu dến. Ông cho rằng, ai không “sáng tác theo phuong pháp hiện thực xã hội chủ nghia”, không “hiểu hiện thực theo quan diểm Marxist”81 là sai. Nam 1979, nền kinh tế Việt Nam dang ở mức khốn cùng nhung Tố Hữu yêu cầu các nhà van phải “nhận ra nhịp di của lịch sử” dể thấy: “Dân tộc ta dang ở khúc chóp dỉnh, chỏm nón của thời dại”82. Tố Hữu dã nói về “những bế tắc của xã hội Pháp” bằng “một sự buồn và khinh bỉ”83.

Ngay sau khi leo lên bục phát biểu, Tố Hữu dã nói: “Cái bục này dối với tôi cao quá, dối với anh Nguyên Ngọc thì còn cao hon. Tôi vừa di Cao Bằng, noi tôi gặp các nông dân. Đừng dứng ở dây mà phê phán hiện thực. Cuộc sống còn cao cả hon hu cấu”. Theo Nguyên Ngọc, Tố Hữu giận nhất là câu “chủ nghia tập thể bầy dàn”. Ông dùng Khổng Tử dể nhắc nhở Nguyên Ngọc: “Những nguời ảo tuởng tuởng mình là nhà chính trị, dồng thời là nhà tho, nhà tu tuởng lớn là nguời diên. Ta không phải là nguời diên, phải trang bị cho mình trí tuệ của thời dại, tức trí tuệ của Đảng, trí tuệ của nhân dân”84.

Tố Hữu phát biểu xong, Nguyên Ngọc vẫn kết luận: “Hội nghị hoàn toàn nhất trí với dề dẫn”. Tố Hữu buớc ra mặt hầm hầm. Một vài nhà van lớn lo lắng chạy theo. Nguyên Ngọc kể: “Tối hôm dó nhiều nguời cảm thấy phẫn uất, anh em tụ lại ở trụ sở Van Nghệ Quân Đội, số 4 Lý Nam Đế. Chế Lan Viên di bộ từ 51 Trần Hung Đạo tới nói: ‘Để mình dẫn Nguyên Ngọc tới nhà anh Lành xin lỗi’. Tôi cám on và nói: ‘Nếu thấy cần di tôi sẽ di một mình”. Sau Hội nghị dó, trong Đảng Đoàn Hội Nhà van duy nhất chỉ có Hoàng Trung Thông nói: “Ngọc không sai”. Nguyễn Khải bỏ vào Sài Gòn còn Tô Hoài, nhu thuờng lệ, lại “trốn vô bệnh viện”. Không có nỗ lực tự cởi trói nào của giới van nghệ có thể tồn tại trong thời gian Tố Hữu nắm quyền85.

Đầu thập niên 1980, môi truờng van nghệ Việt Nam còn một thời kỳ bức bối, nhất là sau vụ bắt hai nhà tho Hoàng Hung và Hoàng Cầm. Nhà tho Hoàng Hung bị bắt chiều ngày 17-8-1982, khi

ông dến số 5 Bát Đàn gặp Trần Thiếu Bảo, giám dốc Nhà Xuất bản Minh Đức, dể lấytập tho Về Kinh Bắc. Tập tho duợc coi là vô giá không chỉ vì tho mà còn vì nó duợc chép tay, duợc minh họa bằng một bức “lá diêu bông” của Van Cao và bốn phụ bản màu nuớc của Bùi Xuân Phái vẽ những cô gái quan họ dội nón quai thao, mặc áo tứ thân. Ba ngày sau, 20-8-1982, co quan an ninh van hóa bắt Hoàng Cầm. Một bản chép tay khác truớc dó dã duợc chuyển vào Sài Gòn cho giáo su Nguyễn Mạnh Hùng, Việt kiều Canada. Nhung, nhờ cấp báo của Duong Tuờng, Giáo su Hùng dã kịp gửi lại tập tho Về Kinh Bắc dể có thể vuợt qua vòng khám hành lý ở sân bay. Tại nhà giam, Hoàng Cầm “nhận tội” rằng, những tuyệt tác tho tình dó của ông duợc làm dể “chống Đảng và dả kích chế dộ”.

Theo Hoàng Hung: Trong tập Về Kinh Bắc có ba bài tho, Cây Tam Cúc, Lá Diêu Bông, Quả Vuờn Ổi – thuờng duợc gọi là bộ ba cây – lá – quả, duợc rất nhiều thế hệ nguời dọc chuyền tay, và cung không ít nguời diễn dịch bài tho nhu những lời oán trách của “em” (van nghệ si) với “chị” (Đảng), dại khái “em” yêu “chị”, nhung “chị” dã lừa “em”, cho “em” an toàn “quả rụng”,

rồi bỏ mặc “em” bo vo dể di lấy chồng. Nam 1974, công an Hà Nội dã gọi Hoàng Cầm lên ran de về việc luu truyền những bài tho “có nội dung xấu” ấy. Hoàng Cầm phai ngung. Nhung sau 1975, Về Kinh Bắc có thêm dộc giả ở miền Nam.

Nam 1979, một số Việt kiều có duợc một số bài tho chép tay của nhà tho, trong dó di nhiên có “bộ ba cây – lá – quả”. Một nữ bác si xung tên là Cần Tho ở Pháp dã xin Hoàng Cầm gửi cho một số bài tho. Về sau mới biết bà là dệ tử của Thiền su Thích Nhất Hạnh. Về Kinh Bắc bắt dầu thành vấn dề nghiêm trọng khi mấy bài tho này duợc in trên một tờ báo ở Pháp kèm theo lời bình mang tính chống dối chính trị86.

Cởi ra…

Đầu thập niên 1980, Đạo diễn Trần Van Thủy bấm máy bộ phim tài liệu Hà Nội Trong Mắt Ai. Bộ phim sử dụng rất nhiều tích cu dễ khiến cho nguời nay giật mình. Nhất là doạn nói về việc “phê don” của bà Huyện Thanh Quan. Bà Huyện có chồng dang làm tri huyện ở miền Trung. Một hôm, chồng di vắng, bà nhận don của “Nguyễn Thị Đào” xin duợc cải giá vì chồng di lính thú. Thuong cảm cho nguời phụ nữ xa chồng, Bà Huyện dã mạnh dạn phê vào don: “Phó cho con Nguyễn Thị Đào/ Nuớc trong leo lẻo cắm sào dợi ai”. Cô Đào vừa di buớc nữa thì chồng trở về, phát don kiện. Hậu quả là ông Huyện bị mất chức. Trong phim, Trần Van Thủy bình: “Mới biết cái máu me van nghệ dính vào việc quan truờng gây ra nhiều sự rắc rối là thế!”.

Phim cung nói dến Nguyễn Trãi, nguời cùng với em họ là Trần Nguyên Hãn “nếm mật nằm gai” phò Lê Lợi suốt muời nam kháng chiến chống quân Minh. Khi Trần Nguyên Hãn bị Lê Lợi bức tử, Nguyễn Trãi cung bị “tạm giam”. Lê Lợi có lần vào ngục tham ông rồi hỏi nên viết quốc nhạc nhu thế nào. Phim kể là Nguyễn Trãi dã bình thản mà rằng: “Thua bệ hạ, thuong yêu dân chúng thì hãy làm những việc nhân dức. Đừng vì on riêng mà thuởng bậy. Đừng vì giận ai mà phản bội. Đó là cái gốc truờng tồn nhất của quốc nhạc!”. Ngay tại xuởng phim noi bộ phim ra dời, lãnh dạo xuởng dã thấy “có gì dó không ổn”. Bộ phim bị coi là “ám chỉ”.

Theo Đạo diễn Trần Van Thủy: “Có lần bộ phim dã duợc chiếu di, chiếu lại tới bốn luợt trong một buổi sáng tại Quân ủy Trung uong. Ủy ban Khoa học Xã hội dã phải tổ chức một cuộc toạ dàm, có các dại biểu của Viện Sử học, Viện Triết học, Viện Hán Nôm cùng tham gia. Các dại biểu không tìm ra bất kỳ một sai sót nào của phim. Nhung, Hà Nội Trong Mắt Ai vẫn bị cấm

chiếu”.

Chiều ngày 18-10-1983, dích thân Chủ tịch Hội dồng Bộ truởng Phạm Van Đồng dã xem Hà Nội Trong Mắt Ai. Rồi ngay sau dó, ông Phạm Van Đồng yêu cầu phải “tổ chức chiếu công khai bộ phim này cho nhân dân xem”. Nhung, cho dù có lệnh của chủ tịch Hội dồng Bộ truởng, Hà Nội Trong Mắt Ai cung chỉ duợc chiếu trong một thời gian ngắn.

Bộ phim sau dó dã duợc dua tới Van phòng Trung uong Đảng chiếu cho ông Truờng Chinh xem. Theo Đạo diễn Trần Van Thủy thì trong buổi chiếu, có ông Lê Xuân Đồng, phó ban Tuyên huấn, nguời cực lực phản dối bộ phim này và ông Đặng Xuân Kỳ, viện truởng Viện Triết học, con trai Truờng Chinh, nguời rất nhiệt thành ủng hộ. Nhung, liền sau dó, bộ phim dã “tuyệt dối không duợc chiếu nữa”. Từ dó cho dến sau Đại hội VI, theo ông Thủy: “Vợ mình bảo mình diên. Đồng nghiệp, cứ bảy ruỡi, tám giờ sáng là tề tựu ở co quan lo xem Trần Van Thủy dã… bị bắt chua!”. Khi ấy, hai dầu dất nuớc thì chiến tranh, trong mỗi con nguời thì dói rét. Ở nông thôn, nông dân dã “dồng khởi” bằng những làn sóng khoán chui. Trong các nhà máy, xí nghiệp, công nhân bắt dầu “xé rào” làm “ba lợi ích”. Giữa nam 1983,

Truờng Chinh bắt dầu di co sở. Tuy vẫn duợc coi là một thành trì cứng rắn nhung, từ cuối nam 1983, Truờng Chinh bắt dầu thận trọng và chịu lắng nghe hon. Tháng 9-1985, uy tín của Tố Hữu gần nhu không còn, sau thất bại của giá-luong- tiền. Tại Đại hội VI, tháng 12-1986, các dại biểu dã gạch tên ông trong phiếu bầu Ban Chấp hành Trung uong Đảng. Cho dù dang có vụ án “hai nhà tho họ Hoàng”, dang có vụ “Trần Van Thủy”, trong khoảng thời gian này, giới van nghệ sỹ bắt dầu nuôi khát vọng thoát ra khỏi cái ngột ngạt của quan liêu cả về kinh tế và chính trị.

Cung nhu van học, nền sân khấu xã hội chủ nghia cung từng phải thể hiện cái hoành tráng của cuộc chiến tranh. Khi chua giành duợc thắng lợi, mọi thứ hãy dang trong chờ dợi thì sự hoành tráng dó có thể che dậy duợc những khao khát cá nhân. Nhung, khi kết thúc chiến tranh, nguời dân nhận ra những diều mà họ chấp nhận hy sinh tuổi xuân dể chiến dấu cho, không tới.

Những nguời cầm quyền có luong tâm cung cảm thấy dắng cay còn nhân dân thì thất vọng. Truớc thực tế dó, nghệ thuật tuyên truyền càng duợc huy dộng, tuởng có thể che dậy những khát khao rất cụ thể của nhân dân, hóa ra lại càng giúp con nguời nhận ra sự choi voi, trống rỗng. Chiến thắng mà không thấy gì cho mình. Theo nhà phê bình sân khấu Ngô Thảo: “Giữa lúc ấy thì các doàn kịch, cải luong từ miền Nam ra, dựng sân khấu diễn khắp hang cùng ngõ hẻm miền Bắc. Những Lá Sầu Riêng, Đời Cô Lựu với từng số phận hiện ra rất rõ, tuy có vẻ nhu bế tắc nhung thật con nguời. Dân chúng dổ xô di xem. Các doàn ca, kịch miền Bắc mất dần khán giả”.

Khác với van học, sự thất bại trong sân khấu bao gồm com áo của cả một dội ngu. Đời sống bức bách buộc các doàn nghệ thuật sân khấu phải chòi dạp. Cái gì bắt dầu từ cuộc sống thì cung mang theo chính hoi thở của nó. Có thể nói là trong các hoạt dộng nghệ thuật dòi dân chủ hóa xã hội, sân khấu dã di dầu. Cuối nam 1985, trong Hội diễn Sân khấu tại Sài Gòn, các doàn miền Bắc dua vào nam vở kịch, duợc ví với “nam cỗ xe tang” của tinh thần dân chủ87.

Theo Ngô Thảo: “Nhân Danh Công Lý dã bị duyệt di duyệt lại nhiều lần. Mùa Hè Ở Biển thì tới phút cuối Đoàn Nam Định mới duợc Tỉnh ủy cho phép dự hội diễn. Quân dội lúc dầu cung dịnh không cho Đoàn chèo Tổng cục Hậu cần diễn Bài Ca Giữ Nuớc. Báo Nhân Dân có bài gay gắt ‘dánh’ Hồn Truong Ba Da Hàng Thịt và Hà Mi Của Tôi, còn Hình Và Bóng thì bị cấm”.

Cho dù không phải là tác giả của duờng lối dổi mới Đại hội VI, nhung Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh với những tuyên bố nồng nhiệt ban dầu dã tạo ra nhiều cảm hứng dân chủ hóa cho một xã hội dã bị trói buộc khá lâu trong vòng bao cấp.

Tháng 5-1987, phim Hà Nội Trong Mắt Ai duợc chuyển tới Nguyễn Van Linh. Theo ông Trần Trọng Tân, khi ấy ông vừa duợc diều từ Campuchia về làm truởng Ban Tuyên huấn Trung uong, Trần Van Thủy dua phim Hà Nội Trong Mắt Ai cho ông. Ông Tân nói: “Coi xong thấy hay quá, tôi hỏi Thủy: sao phải dua tôi coi? Thủy nói: Trên không cho chiếu. Tôi về hỏi nguời giúp việc thì duợc anh cho biết: Cụ Truờng Chinh nói phim này ám chỉ nên không cho phát hành. Khi dó, tôi tính, mình mới về nếu mình cung cấm thì không hay mà mình nói cho thì… tế nhị nên diện thoại cho anh Nguyễn Van Linh: Anh rảnh mời anh coi cái phim của anh Thủy. Tôi coi thấy hay nhung truớc dây, anh Truờng Chinh dã không cho chiếu. Anh Linh thu xếp coi, xong anh bảo: Hay! Cứ cho chiếu, còn giữa tôi và anh Truờng Chinh thì dể tôi lo”.

Theo ông Trần Van Thủy thì sau dó Ban Van hóa Van nghệ của Trần Độ cung dã làm khá bài bản. Theo chỉ thị của tổng bí thu, Ban triệu tập một buổi chiếu Hà Nội Trong Mắt Ai cho tất cả những nguời có trách nhiệm về quản lý van hóa, van nghệ, tổng thu ký các hội van học, nghệ thuật xem và bỏ phiếu. Vì tổng bí thu dã khen, “100% nguời xem bỏ phiếu thuận”.

Ngày 25-9-1987, Van phòng Trung uong Đảng có van bản truyền dạt ý kiến của Ban Bí thu, chỉ thị Ban Tuyên huấn, Bộ Van hóa phổ biến rộng rãi Hà Nội Trong Mắt Ai. Tháng 3-1988, tại Liên hoan Phim Việt Nam ở Đà Nẵng, Hà Nội Trong Mắt Ai doạt một lúc bốn giải thuởng: Bông sen vàng cho phim tài liệu, Biên kịch xuất sắc nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất và Quay phim xuất sắc nhất.

Đổi mới cung dã thực sự “cởi trói” cho linh vực sân khấu. Những vở kịch gai góc không còn có số phận long dong nhu truớc dây. Những Tào Mạt, Xuân Trình, Doãn Hoàng Giang, và dặc biệt, Luu Quang Vu, nhanh chóng trở thành những ngôi sao của sân khấu.

Luu Quang Vu sinh nam 1948. Nam 1965, Vu khai gian tuổi dể vào bộ dội. Tuy nhiên, môi truờng quân dội mà anh trải qua dã không lý tuởng nhu những gì mà anh tuởng tuợng khi còn ngồi trên ghế nhà truờng. Máu van nghệ và kỷ luật quân dội là hai “phạm trù” mâu thuẫn. Là lính thợ sửa máy bay ở sân bay Bạch Mai, trong khi, nguời yêu của anh, diễn viên diện ảnh Tố Uyên nổi tiếng và xinh dẹp, thì dang ở Hà Nội: “Không có em anh cung chẳng là anh/ Biết on bàn tay chỉ sắc màu hạnh phúc/ Em là rễ nối liền anh với dất/ Lại là chồi nở búp dón suong mai”. Vu thuờng xuyên trốn về gặp Tố Uyên và kết quả là nam 1970, Luu Quang Vu bị loại ngu vì liên tục vi phạm kỷ luật.

Trở về thành phố, không sổ gạo, không hộ khẩu, Luu Quang Vu duợc Tạ Đình Đề 88 dua về làm ở xuởng cao su Đuờng sắt. Rồi, có lúc làm sửa lỗi chính tả ở Nhà Xuất bản Giải phóng, chấm công trong một dội cầu duờng, làm bích báo, vẽ pano, khẩu hiệu. Nam 1978 Vu duợc cha là nhà viết kịch Luu Quang Thuận can thiệp cho về Tạp chí Sân Khấu. Ở dây, anh duợc Đạo diễn Phạm Thị Thành dặt hàng viết một vở kịch về Lý Tự Trọng. Và Vu dã viết vở kịch dầu tay của anh: Mãi Mãi Tuổi 17.

“Cởi trói” dã biến Luu Quang Vu trở thành nhà viết kịch dắt hàng nhất. Những tràng vỗ tay của khán giả khi xem kịch Luu Quang Vu dã dua các truởng doàn kịch từ khắp các tỉnh thành phải về “an dầm nằm dề” ở nhà anh dể chờ kịch bản.

Nam muoi vở kịch dã duợc Luu Quang Vu viết, chủ yếu trong những nam giữa thập niên 1980. Nếu nhu sân khấu dã gây dấu ấn ở Hội diễn 1985 thì Hội Nhà van lúc dó lại “gần nhu dửng dung với dổi mới”. Tờ báo Van Nghệ cho tới dầu nam 1987 ế tới mức không còn tiền mua giấy. Tổng Biên tập Đào Vu gửi thu cho Ban Van hóa Van nghệ Trung uong tuyên bố dóng cửa tờ báo.

Truởng ban Trần Độ không chấp nhận dóng cửa Van Nghệ, thúc giục Hội phải nhanh chóng tìm nguời thay thế. Trong một cuộc họp nội bộ, nhà van Nguyễn Minh Châu dề nghị “mời Nguyên Ngọc”. Nguyễn Đình Thi và Chính Hữu gặp Trần Độ báo cáo. Trần Độ thúc Hội làm thủ tục ngay dể diều Nguyên Ngọc về nhung Nguyễn Đình Thi cứ chần chừ cho dến khi Tuớng Trần Độ cử nguời dến Hội yêu cầu.

Tháng 6-1987, Nguyên Ngọc có quyết dịnh về làm tổng biên tập tờ Van Nghệ. Khi dó, tờ báo này dã “dình bản” liên tục bốn số liền, Võ Van Trực và Ngô Ngọc Bội dang chuẩn bị cho ra một tờ “bốn số gộp”. Bản thảo số báo này có truyện ngắn Tuớng Về Huu, một truyện ngắn duợc gửi tới báo Van Nghệ từ khá lâu, tác giả của nó khi dó chua ai biết dến.

Ngô Ngọc Bội cho rằng dó là một truyện ngắn hay, nhung Tổng Biên tập Đào Vu mấy lần xếp lại. Theo Nguyên Ngọc, khi biết ông sẽ về thay thế Đào Vu, Võ Van Trực có tham khảo ông và

ông dã khuyến khích Võ Van Trực cho dang. Tuớng Về Huu ngay sau khi công bố dã dịnh danh một nhà van tài nang: Nguyễn Huy Thiệp. Cuộc tranh luận về Tuớng Về Huu trên nhiều diễn dàn ngay sau dó dã làm cho Nguyễn Huy Thiệp nổi tiếng và tờ Van Nghệ duợc chú ý hon.

Ông Nguyên Ngọc kể: “Nhận chức, tôi họp anh em nói, báo Van Nghệ hon các báo ở chỗ có chất van, nhung dã báo thì phải có tính chiến dấu. Muốn lôi cuốn dộc giả thì phải dua dời sống vào báo, phải làm sống lại mảng phóng sự van học, lấy phóng sự làm mặt trận chính của báo”.

Phóng sự dầu tiên gây xôn xao trên báo Van Nghệ viết về ông Nguyễn Van Chẩn, còn duợc gọi chết tên là “Vua Lốp”, nguời bị Hà Nội khởi tố vì “thu gom phế liệu” một ngành “dộc quyền nhà nuớc”. Bài phóng sự do Trần Quang Huy viết có tên Lời Khai Của Một Bị Can nhanh chóng duợc nhiều tờ báo dang lại hoặc lên tiếng ủng hộ, kể cả báo Nhân Dân. Sau Lời Khai Của Một Bị Can, Van Nghệ có thêm những bài báo thu hút du luận nhu Nguời Đàn Bà Quỳ và dặc biệt là Cái Đêm Hôm Ấy Đêm Gì? của Phùng Gia Lộc.

Phùng Gia Lộc là một nguời viết van ở Thanh Hóa. Giữa thập niên 1980, ông có một số bài viết dụng chạm dến những tiêu cực ở dịa phuong. Bí thu Tỉnh ủy Thanh Hóa bấy giờ là ông Hà Trọng Hòa, một nguời mà bài vè “Thanh Hóa dô tá, dô tà” gọi là “vua không ngai”. Bị de dọa, Phùng Gia Lộc phải trốn ra Hà Nội. Theo Nguyên Ngọc: “Anh em van nghệ ở Thanh Hóa tổ chức dua Phùng Gia Lộc lên tàu, cử hai nguời dứng hai dầu toa dể canh chừng. Ra Hà Nội, thoạt dầu Lộc ở nhà Bế Kiến Quốc, sau thấy nhà Quốc không an toàn, anh em dua Lộc về sống tạm ở tòa soạn báo Van Nghệ”.

Tại Tòa soạn báo Van Nghệ, Phùng Gia Lộc kể lại câu chuyện chính quyền Thanh Hóa theo lệnh của bí thu, tịch thu xe dạp, phích nuớc và lợn gà của những gia dình thiếu thóc nghia vụ. Nam ấy Thanh Hóa mất mùa, dói kém, bí thu chỉ thị: “Lợi ích của nguời lao dộng phải hy sinh cho lợi ích nhà nuớc”.

Câu chuyện xảy ra trong một gia dình có một cụ già bệnh nặng, sắp tới lúc gần dất xa trời. Gia dình dã giấu vào trong cỗ quan tài dóng sẵn của bà cụ một ít thóc dể lo “hậu sự”. Gần một giờ sáng, “dân quân ập vào… tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu eng éc nhu bị chọc tiết,… dân quân, công an lật cỗ quan tài duới gầm bàn thờ, lúa chảy rào rào. Đấy là lúa tạ, hai cô con gái mua cho dể sau hôm bà già chết, dãi khách”.

Phùng Gia Lộc kể, cả tòa soạn Van Nghệ ngồi nghe, rồi khóc. Nguyên Ngọc nói: “Tôi bảo Lộc viết ngay di”. Lộc cầm bút và bài ký Cái Đêm Hôm Ấy Đêm Gì của anh, dang trên Van Nghệ số ra ngày 23-1-1988, dã gây chấn dộng. Các báo cho dang lại. Cuộc chiến của báo Van Nghệ, Phùng Gia Lộc với Bí thu Thanh Hóa Hà Trọng Hòa từ dó bắt dầu duợc gần nhu tất cả các báo theo dõi và dang bài ủng hộ.

Nam 1987 có thể coi là nam của Nguyễn Van Linh. Câu nói tuởng nhu vô trách nhiệm của ông với van nghệ sỹ, “hãy tự cứu mình truớc khi trời cứu”, dã tạo ra những ảnh huởng không ngờ. Bản chất của lao dộng sáng tạo là dộc lập. Điều mà giới van nghệ sỹ cần là tự do. Đuợc lời của tổng bí thu, ai cung sốt sắng tự mình cởi trói.

Nhiều tác phẩm gây xôn xao du luận, xuất bản trong thập niên 1990, dã thai nghén trong giai doạn Nguyễn Van Linh. Sau Nguyễn Huy Thiệp, xuất hiện thêm Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh,… Những nhà van dã có tác phẩm truớc dó nhu Duong Thu Huong, Nguyễn Minh Châu cung bắt dầu viết bằng những hoi thở mới.

Sau Nghị quyết 05 Bộ Chính trị, công an và các co quan liên quan triển khai “làm chính sách cho các dối tuợng Nhân Van Giai Phẩm”. Đại tá Thái Kế Toại, nguời duợc A25 giao viết báo cáo về “tình hình các dối tuợng Nhân Van” cho biết, công an dã “dề xuất phuong huớng giải quyết chế dộ chính sách” theo huớng: Phục hồi hội tịch Hội Nhà van cho Trần Duy, Trần Dần, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh, Lê Đạt, Phùng Quán. Giải quyết chế dộ luong huu cho Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung.

Cung trong nam 1987, lần dầu tiên kể từ sau Nhân Van, Nhà Xuất bản Van hóa in cho Hoàng Cầm tập tho Mua Thuận Thành; Báo Quảng Nam-Đà Nẵng in cho Phùng Quán truờng ca Cây Cà. Nam 1988, Nhà Xuất bản Tác phẩm mới in tập tho Lá của Van Cao.

Nam 1976, Van Cao sáng tác ca khúc dầu tiên kể từ sau “Nhân Van”, bài hát có tên là Mùa Xuân

Đầu Tiên dã duợc in trên báo Sài Gòn Giải Phóng và duợc Đài Tiếng nói Việt Nam thu thanh. Tuy nhiên ngay sau dó, bằng một lệnh không

thành van, Mùa Xuân Đầu Tiên biến mất. Cuối thập niên 1980, những “dêm nhạc Van Cao” bắt dầu duợc tổ chức trang trọng ở Sài Gòn và Hà Nội. Cung trong nam 1988, Nguyễn Hữu Đang duợc chuyển lên Hà Nội và duợc cấp nhà.

Cho dù, truớc khi Nguyễn Van Linh rời chính truờng, tháng 4-1991, Ban Chấp hành Trung uong mà ông dứng dầu vẫn ra thông báo về vụ án “Nhân Van Giai Phẩm” và vụ “Xét lại chống Đảng 1967” với quan diểm “không thừa nhận sai lầm, vẫn dánh giá hai vụ án nhu truớc dây”. Nhung Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Cung,… tiếp tục duợc xuất bản tác phẩm. Nam 1992, Kỷ yếu Nhà van Việt Nam duợc in và tên của Phan Khôi lần dầu tiên duợc nhắc lại. Khát vọng tự do của nguời dân, dặc biệt là của tầng lớp trí thức và van nghệ sỹ, thuờng không có giới hạn. Nhất là lúc dã dứng thẳng dậy. Đây cung là thời kỳ mà chuong trình “cải tổ” duợc Gorbachev thúc dẩy mạnh mẽ ở Liên Xô. Đây cung là thời kỳ, hệ thống xã hội chủ nghia ở Đông Âu và Liên Xô sụp dổ.

Việt Nam có thể dã khác và lịch sử có thể dã ghi nhiều dấu ấn của Nguyễn Van Linh hon nếu nhu, cuối thập niên 1980, mục tiêu uu tiên của ông dã không duợc chuyển từ dân chủ hóa hệ thống chính trị và dời sống xã hội sang cứu vãn sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghia.

Chuong XIII: Đa nguyên

Ông Nguyễn Van Linh làm tổng bí thu vừa dúng một nhiệm kỳ (1986-1991). Nguời kế nhiệm

ông – ông Đỗ Muời – nói rằng, thời gian thực sự làm việc của ông Linh chỉ khoảng gần hai nam vì ông thuờng xuyên dau ốm. Nhung ông Nguyễn Van Linh dã nỗ lực nhu một nguời mạnh khỏe dể bảo vệ thành trì xã hội chủ nghia. Những nỗ lực dó có thể duợc Đảng Cộng sản Việt Nam ghi công nhung cung khiến cho di sản của Nguyễn Van Linh trở nên rất khác.

Cải cách ở bậc dại học

Chính sách kinh tế nhiều thành phần thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VI, tháng 12-1986, dã dặt Việt Nam truớc nhiều áp lực thay dổi mà truớc dó chua ai trù liệu tới. Một trong những linh vực chịu áp lực dó là giáo dục. Trong bài trả lời “phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam” ngày 4-12-

1988, Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh thừa nhận: “Trong khi thực hiện những chính sách dúng dắn theo phuong huớng dổi mới, chúng ta chua luờng truớc diễn biến phức tạp cho nên dã không kịp thời xử lý tốt các vấn dề mới nảy sinh”.

Cung nhu các nuớc xã hội chủ nghia khác, giáo dục dại học của Việt Nam dã tuân theo mô hình bao cấp. Hằng nam, can cứ vào tính toán nhu cầu của các co quan, các dịa phuong, Ủy ban Kế

hoạch Nhà nuớc phân bổ cho các truờng dại học chỉ tiêu tuyển sinh. Rồi can cứ vào chỉ tiêu dó, ngân sách rót tiền cho các bộ chủ quản, các bộ rót tiền xuống cho các truờng thuộc quyền quản lý của mình. Sinh viên ra truờng duợc nhà nuớc phân công công việc.

Nhung, từ nam 1987, nhiều linh vực truớc dây thuộc khu vực công bắt dầu do “các thành phần kinh tế” khác dảm trách: biên chế không còn nhu cầu, sinh viên ra truờng không còn duợc phân công về các co quan nhà nuớc. Truờng Đại học Tổng hợp Hà Nội có 1.000 giáo viên, nam 1987 chỉ còn duợc giao chỉ tiêu tuyển sinh 100 sinh viên. Các truờng khác cung roi vào tình huống tuong tự, viễn cảnh ra truờng không có việc làm làm cho sinh viên không muốn học, thầy cô không muốn dạy. Bộ truởng Đại học và Trung học Chuyên nghiệp (1987-1992), Giáo su Trần Hồng Quân nói: “Tình hình cực kỳ nguy hiểm, nếu không thay dổi thì các truờng dại học sẽ tan

rã”.

Nam 1987, dang là Hiệu truởng Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, ông Trần Hồng Quân duợc bổ nhiệm giữ chức Bộ truởng Đại học và Trung học Chuyên nghiệp. Ông Quân là cháu gọi phu nhân Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh, bà Ngô Thị Huệ, là dì ruột. Không thể dịnh luợng mối quan hệ “duợng-cháu” này dã ảnh huởng nhu thế nào tới các quyết dịnh của Bộ truởng Trần Hồng Quân. Nhung, dây là giai doạn mà chính sách tuyển sinh phân biệt dối xử duợc bãi bỏ và nhiều quyết dịnh của Bộ dã làm thaydổi giáo dục dại học Việt Nam89.

Mùa hè nam 1987, Bộ Đại học quyết dịnh triệu tập hiệu truởng và bí thu Đảng ủy các truờng dại học trong cả nuớc về Nha Trang dự một hội nghị, về sau gọi là “Hội nghị Nha Trang”. Hội nghị dã thảo luận bốn tiền dề dào tạo: Đào tạo không chỉ cho các co quan nhà nuớc mà cho cả các thành phần kinh tế; Đào tạo theo dự báo yêu cầu tuong lai; Đào tạo phục vụ nhu cầu của nhân dân về học, không kèm theo trách nhiệm phân công, sinh viên tự tìm việc làm và lập nghiệp tạo việc làm cho xã hội; Đào tạo da dạng, có cả những loại hình phi chính quy, không chỉ bằng ngân sách mà còn thu học phí.

Lần dầu tiên, trong một hội nghị của ngành các dại biểu có thể dối thoại với co quan quản lý. Bộ truởng Trần Hồng Quân nhớ lại: “Phản ứng kinh khủng, vì dào tạo không theo kế hoạch, không phân công, không ngân sách là sai nguyên lý xã hội chủ nghia. Nhiều bí thu dảng ủy dòi dối thoại với ông Đặng Quốc Bảo, truởng Ban Khoa giáo Trung uong. Ông Bảo nói: ‘Cứ dối thoại với Bộ truởng, tôi dến dây dể nghe’. Tôi nói: ‘Các dồng chí bác dề án này vậy có sáng kiến gì

khác dể nền dại học của chúng ta tránh duợc sụp dổ?’. Mọi nguời chỉ than mạo hiểm mà không dua ra duợc phuong án khác nào, cuối cùng phải chấp nhận”.

Theo ông Trần Hồng Quân, Phó Chủ tịch Hội dồng Bộ truởng Võ Nguyên Giáp và Bí thu Trung uong Đảng Trần Xuân Bách hoàn toàn ủng hộ kế hoạch cải cách này. Cả hai ông sau dó dã tham gia Hội nghị Vung Tàu và ủng hộ các truờng kýtrực tiếp với nuớc ngoài về hợp tác dào tạo thay vì qua Bộ. Cho dù có những phản ứng lúc dầu, nhung sau Hội nghị Nha Trang, khi lên tàu trở về, các hiệu truởng bắt dầu bàn với nhau các kế hoạch thực hiện.

Ý tuởng bầu hiệu truởng và phân cấp cho các truờng bắt dầu duợc dề cập dến ở Hội nghị Nha Trang. Về Hà Nội, trong một lần gặp riêng tu, ông Trần Hồng Quân nói: “Tôi hỏi ông Võ Van Kiệt, khi ấy dang là phó chủ tịch thuờng trực Hội dồng Bộ truởng: ‘Chú thấy sao?’. Ông Kiệt hỏi lại: ‘Mày còn phân vân à?’. Rồi nói: ‘Nếu tao là bộ truởng thì tao sẽ cho tiến hành’. Về, tôi cho áp dụng luôn ba hình thức: bổ nhiệm thẳng hiệu truởng, tham dò truớc khi bổ nhiệm và bầu cử”. Bầu hiệu truởng dã tạo ra nhiều hiệu ứng trong các truờng dại học. Truớc khi bỏ phiếu, Bộ truởng trực tiếp dối thoại với toàn thể cán bộ công nhân viên về mặt chủ truong. Sau dó, các ứng cử viên dua ra chuong trình hành dộng của mình và dối thoại trực tiếp với những nguời bỏ phiếu. Chính những cuộc dối thoại này dã làm cho các ứng cử viên luôn luôn phải dộng não, luôn luôn phải làm hết sức mình. Đó là một giai doạn mà trong các nhà truờng dại học, ở dâu cung thảo luận, ở dâu cung bàn bạc. Ngày dầu tiên có cuộc dối thoại giữa Bộ truởng Trần Hồng Quân và cán bộ công nhân viên truờng Đại học Tổng hợp Hà Nội, hội truờng Mễ Trì có sức chứa 600 nguời, từ sáng sớm dã chật từ bên trong dến bên ngoài, tranh luận diễn ra liên tục từ bảy giờ sáng cho tới một giờ chiều.

Tranh cử không phải là một sản phẩm của dổi mới ở Việt Nam. Hội nghị Nha Trang diễn ra khi mà ở Moscow, vào ngày 21-6-1987, Xô viết Moscow dã tổ chức bầu cử chủ tịch và các phó chủ tịch theo phuong thức các dại biểu có thời gian ba ngày dể thảo luận về danh sách các ứng cử viên. Thay vì chỉ duợc biết tên các ứng cử viên truớc khi bỏ phiếu, nhu cách mà báo Nga gọi là “bộ máy cu tái sản xuất ra chính nó”90.

Sinh viên và các phong trào tự phát

Cho dù không duợc tham gia bỏ phiếu, lực luợng chịu ảnh huởng nhiều nhất từ chủ truong bầu hiệu truởng vẫn là sinh viên nhất là trong một giai doạn “dòi tự do, dân chủ” dang trở thành một trào luu trên thế giới.

Ở Nam Triều Tiên, chính quyền dộc tài quân sự cung bắt dầu lung lay. Một thứ truởng ngoại giao Mỹ dã tới Seoul trao tận tay Tổng thống Chun Doo Hwan lá thu của Tổng thống Reagan, khuyên Chun dối xử nhẹ nhàng với những nguời biểu tình và dàm phán với bên dối lập dể sửa dổi hiến pháp. Đại sứ Mỹ tại Seoul cung dã vào tận nhà tù dể gặp riêng hai lãnh tụ dối lập Kim Y

oung Sam và Kim Dea Jung.

Sau bảy nam kiên trì dấu tranh, nguời dân Hàn Quốc dã buộc Chun Doo Hwan phải chấp nhận sửa dổi hiến pháp và chế dộ bầu cử, bảo dảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận; thả tù nhân chính trị và cam kết, dến tháng 2-1988, khi kết thúc nhiệm kỳ sẽ trao lại quyền lực cho vị tổng thống dân sự duợc bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, trực tiếp. Nguời dân Seoul dổ xuống duờng an mừng. Báo Tuổi Trẻ ngày 7-7-1987 gọi dây là “thắng lợi của sức mạnh quần chúng”.

Khi những nguời tuổi trẻ ý thức duợc sự truởng thành, họ không giới hạn sự dòi hỏi của mình trong những chuyện com an, áo mặc. Không khí dân chủ trong môi truờng dại học dã giúp họ nhận ra và bày tỏ thái dộ cả với chuong trình dào tạo, thay vì cung cấp những kiến thức cần thiết cho cuộc sống, sau nam 1975 dã bị chính trị hóa91.

Từ sau Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị92, bậc “giáo dục mầm non”, dành cho trẻ từ hai dến bốn tuổi, cung duợc coi là “một bộ phận rất quan trọng trong sự nghiệp dào tạo thế hệ trẻ thành những con nguời mới xã hội chủ nghia”. Ở bậc “giáo dục phổ thông” – từ hệ 10 nam của miền Bắc duợc thiết kế thành hệ 12 nam nhu miền Nam – nội dung giáo dục duợc yêu cầu phải “coi trọng các môn giáo dục công dân và dạo dức cách mạng”. Tham gia doàn thể là một hoạt dộng bắt buộc và trở thành doàn viên cộng sản là diều kiện tiên quyết dể một học sinh duợc thi vào dại học. Mục tiêu dầu tiên của bậc “giáo dục dại học” là dào tạo những nguời “một lòng một dạ trung thành với tổ quốc xã hội chủ nghia”93. Chuong trình học và sách giáo khoa bắt dầu duợc soạn mới, chính trị càng tràn ngập trong các nội dung giảng dạy.

Giữa nam 1987, tại truờng Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, xảy ra vụ một sinh viên khoa Triết bị loại bài thi và bị truởng Bộ môn Marx-Lenin nhận xét: “Phê phán cực doan và có nguy co phản Đảng”. Nhiều sinh viên dã phản ứng. Đoàn truờng Tổng hợp, hồi tháng 6-1987, dã tiến hành một cuộc tham dò du luận cho thấy 89% sinh viên duợc hỏi không thích học các môn lý luận chính trị, trong dó, 30% sinh viên cho rằng do bài giảng chính trị chất luợng kém, 20% cho rằng cách tổ chức dạyvà học chua tốt.

Ngày 18-6-1987, Chi doàn khoa Triết nam thứ ba truờng Đại học Tổng hợp tổ chức hội thảo về “giảng dạy và học chủ nghia Marx-Lenin”. Tại dây, các sinh viên dã phê phán “giáo viên dạy lý luận chính trị mà dựa vào sách vở nhu là viện dẫn kinh thánh”. Nhiều sinh viên tuyên bố không thích học chính trị theo cách giảng dạy hiện nay. Một sinh viên nam thứ tu cho rằng: “Tôn trọng thầy không có nghia là không có quyền nhận xét thầy dạy dở. Đã dến lúc chất luợng bài giảng, phuong pháp giảng dạy, kể cả chất luợng giáo viên chính trị cần phải duợc dánh giá lại”.

Không dừng lại ở nội dung giảng dạy, dầu nam học 1987, hai sinh viên Đại học Kinh tế dã vẽ bốn tấm bích chuong dán ở bốn ký túc xá dể thu thập chữ ký dòi các Ban Quản lý Ký túc xá cải thiện diều kiện an ở cho sinh viên. Ở khoa Van, Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi phản ánh nhiều lần không có kết quả,

Tô Oanh

Go!

∑Home

∑About

Bên Thắng Cuộc II. Quyền Bính ( 2 )

17/01/2013 at 12:04 chiềuĐể lại phản hồi

Bên Thắng Cuộc

II. Quyền Bính ( 2 )

Huy Đức

( Tiếp theo )

Mậu Thân và tham vọng của Lê Đức Thọ

Cuối nam 1966, khi trả lời phỏng vấn Harrison Salisbury, phóng viên tờ New York Times, Thủ tuớng Phạm Van Đồng nói rằng, Hoa Kỳ dúng là “mạnh hon rất nhiều về quân sự”, nhung, theo ông: “Cuối cùng sẽ thất bại vì có nhiều nguời Việt Nam sẵn sàng hy sinh cho Việt Nam hon nguời Mỹ”.

Sức chịu dựng của nền chính trị Mỹ bắt dầu bị thách thức khi số lính Mỹ chết ở chiến truờng Việt Nam lên tới con số hàng tram mỗi tuần. Từ nam 1961 cho tới dầu nam 1968, có 31.000 nguời Mỹ bị chết và mất tích ở Việt Nam. Cảnh chết chóc của binh lính và dặc biệt là dân thuờng duợc chiếu mỗi tối trên máy truyền hình bắt dầu có trong phòng ngủ của các gia dình Mỹ.

Theo mô tả của Henry Kissinger, “McNamara mong muốn kết thúc chiến tranh một cách tuyệt vọng, và nhiều lần khẩn khoản tôi moi bất cứ dấu hiệu lờ mờ nào, cho dù là gián tiếp, có thể giúp ông thúc dẩy công cuộc di tới một kết cục bằng thuong luợng”210. Ngày 7-4-1965, Tổng thống Johnson tuyên bố tại Baltimore: “My san sang thuong luong không diêu kiên”. Cuối tháng 12-

1965, nguời Mỹ cử Harriman, một nhà ngoại giao, tới Ba Lan dể nhờ Ba Lan làm trung gian thuong luợng với Hà Nội.

Ngày 2-1-1966, J. Mikhalowski, thu truong kiêm tông thu ky Bô Ngoai giao Ba Lan, tới Hà Nội và thông báo với Thủ tuớng Phạm Van Đồng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: My rât linh hoat. Ho san sang tim moi cach dê thuong luong. Mikhalowski nài nỉ: “Cân phai co môt sang kiên. Phai tiên lai voi nhung y kiên chung to chung ta muôn hoa binh, va qua do cac dông chi se tranh thu duoc du luân thê gioi vê minh”211. Nhung cả Thủ tuớng Phạm Van Đồng và Chủ tịch Hồ Chí Minh dều cự tuyệt212.

Ngày 14-6-1966, một nhà ngoại giao nguời Canada duợc gửi toi Ha Nôi, nhung chuyến di của ông cung thất bại. Tiếp dó, ông Jean Sainteny, nguời từng ký với Hồ Chí Minh bản Hiệp dịnh So bộ ngày 6-3-1946, dã duợc Tổng thống Pháp cử tới Việt Nam.

Ngày 1-7-1966, tại Hà Nội, Sainteny cho biết: “My dang tim môt giai phap dê khoi mât thê diên va chinh Viêt Nam moi o thê thang. My da bi danh bai. Đôi voi môt nuoc nho ma lam cho My không thuc hiên y dô la da o trong thê thang rôi”213. Rồi Sainteny thuyết phục Phạm Van Đồng: “Cân nghi dên chiên tranh nhung cung cân nghi dên hoa binh. Môt ngay nao do se phai thuong luong”214.

Đúng lúc ấy, Hồ Chí Minh duợc mô tả là dã buớc vào phòng, cắt ngang cuộc gặp giữa Sainteny và Phạm Van Đồng: “Nêu ông co gap nguoi My, ông hay noi cho ho rang chung tôi không so My, chung tôi se chiên dâu dên cung, du co phai hy sinh tât ca”215. Hôm sau, ngày 5-7-1966, trong cuộc tiếp chính thức, Hồ Chí Minh nói với Sainteny: “Chung tôi hiêu dê quôc My. Chung

tôi biêt suc manh cua ho. Ho co thê san bang Ha Nôi, Hai Phong, Nam Đinh, Bac Ninh va cac thanh phô khac. Điêu do không hê lam yêu quyêt tâm chiên dâu dên cung cua chung tôi”216. Tu nam 1967, nguời Mỹ bắt dầu thiết lập một kênh liên lac voi Viêt Nam qua nguoi Phap. Giữa tháng 7-1967, Henry Kissinger trở thành nguoi trung gian khoi dông tiến trinh thuong luong. Cho dến lúc ấy, nguời Mỹ không hề biết rằng, ông Lê Duẩn dang có trong tay một kế hoạch dầy tham vọng mà về sau duợc các nhà báo Mỹ gọi là “Tet Offensive” và các van kiện chính thức của Hà Nội gọi là “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968”.

Trong “chiến tranh giải phóng miền Nam”, cho dù Tuớng Giáp vẫn là bộ truởng Bộ Quốc phòng, tổng tu lệnh, bí thu Tổng Quân ủy, nhung theo ông Lê Trọng Nghia: “Thay vì ông Giáp là nguời quyết dịnh, ông Lê Đức Thọ có sáng kiến lập ra Tổ nam nguời giúp Trung uong chỉ dạo tác chiến miền Nam gồm: Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng và Lê Đức Thọ. Trong tổ này, ông Giáp chỉ còn một phiếu”.

Chiến dịch Mậu Thân duợc lên kế hoạch sau “những cuộc họp liên miên” mà các bên tham gia dã phải “tranh cãi gay gắt”. Đại tá Lê Trọng Nghia, nguời dự hầu hết những cuộc họp này, nói: “Trong Quân ủy xuất hiện hai xu huớng khác nhau: Một xu huớng cho rằng phải dánh bằng quân sự thì mới giải quyết duợc cách mạng miền Nam, xu huớng này do Nguyễn Chí Thanh phát ngôn và phía sau là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Một xu huớng dồng ý dánh, nhung vừa dánh vừa cân nhắc tình hình chính trị, nếu khi nào khả nang chính trị xuất hiện thì nắm lấy co hội dàm phán hòa bình, nguời dứng dầu xu huớng này là Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Van Vịnh. Tuy nhiên, tới tháng 6-1967 thì dôi bên di dến thống nhất: dánh; một ý dồ chiến luợc duợc hình thành gọi là Kế hoạch 67-68”.

Chiều 5-7-1967, Bộ Chính trị làm com tiễn dua Nguyễn Chí Thanh trở lại miền Nam, cùng dự có Hồ Chí Minh. Sau bữa com, Tuớng Thanh có ngồi lại khá lâu với Tuớng Giáp. Nguời thân của ông kể lại rằng: Sau một dêm trằn trọc bên nguời vợ tại nhà riêng ở số 34 Lý Nam Đế, Đại tuớng Nguyễn Chí Thanh bị choáng mệt. Lúc gần sáng, ông duợc dua di cấp cứu tại Bệnh viện Quân y 108, nhung khi vừa duợc dặt nằm xuống giuờng bệnh thì từ ông “phát ra tiếng kêu ‘ặc’ rồi mặt và toàn thân tím ngắt”. Khoảng chín giờ sáng ngày 6-7-1967, Nguyễn Chí Thanh mất với kết luận của bệnh viện là do “nhồi máu co tim”.

Vị tuớng dại diện cho xu huớng “giành chiến thắng hoàn toàn bằng quân sự” vừa ra di thì có hai sứ giả mang thông diệp hòa hoãn từ Washington tới: ông Raymond Aubrac và Herbert

Marcovich. Aubrac là nguời quen cu của Hồ Chí Minh trong thời kỳ ông tới Paris dự Hội nghị Fontainebleau217. Sự ra di dột ngột của Tuớng Thanh cung làm cho ông Giáp bị sốc, ngay sau tang lễ Nguyễn Chí Thanh, Tuớng Giáp duợc dua di Hungary duỡng bệnh. Hồ Chí Minh tiếp các sứ giả W ashington khi bên mình không còn hai dại tuớng. Ông bắt dầu nói về dàm phán.

Ngày 24-7-1967, “Aubrac cảm thấy có dấu hiệu mới mẻ”218 khi gặp Hồ Chí Minh. Thủ tuớng Phạm Van Đồng gần nhu dã bàn chi tiết phuong thức tiến hành dàm phán219 với diều kiện Mỹ ngung ném bom miền Bắc.

Ngày 25-8-1967, Aubrac va Marcovich chuyển tới tổng dại diện Việt Nam tại Paris thông diệp thuong luợng dầu tiên của Chinh phu My gui Chinh phu Viêt Nam Dân chu Công hoa: “Hoa Ky san sang châm dut nem bom ban pha bang không quân va hai quân o miên Bac Viêt Nam voi su hiêu biêt rang viêc do se nhanh chong dua toi nhung cuôc thao luân co hiêu qua giua Hoa Ky va Viêt Nam Dân chu Công hoa dê tiên toi giai quyêt nhung vân dê dang lam hai nuoc chông dôi

nhau”220.

Không ai biết rõ thông diệp trên dây của Washington có duợc miền Bắc chuyển dến lãnh tụ tối cao hay không. Khi miền Bắc trả lời thì Hồ Chí Minh dã không còn ở Hà Nội nữa. Theo Đại tá Lê Trọng Nghia: “Ngày 5-9-1967, Hồ Chí Minh duợc dua di nghỉ ở Bắc Kinh. Chúng tôi nhận duợc thông báo từ Ban Tổ chức Trung uong của Lê Đức Thọ: Bác mệt, phải di nghỉ dông, từ nay, những ai truớc trực tiếp làm việc với Bác thì làm việc với dồng chí Lê Duẩn”.

Ngay 11-9-1967, Mai Van Bô trao cho Aubrac va Marcovich tra loi cua Ha Nôi: “Thông diêp cua My da duoc trao sau môt cuôc leo thang danh pha Ha Nôi va voi su de doa liên tuc danh pha Ha Nôi. Ro rang do la môt tôi hâu thu dôi voi nhân dân Viêt Nam. Chinh phu nuoc Viêt Nam Dân chu Công hoa kiên quyêt bac bo nhung dê nghi trên dây cua My”221. Một kế hoạch mang tên San Antonio, theo dó, Mỹ sẽ “chấm dứt hoạt dộng quân sự chống miền Bắc Việt Nam – dể dổi lấy các cuộc dối thoại, miễn là Hà Nội không lợi dụng việc ngừng ném bom” 222, vẫn duợc nguời Mỹ dua ra. Ngày 29-9-1967, Johnson dồng ý “Kế hoạch San Antonio”, nhung theo Kissinger, Hà Nội dã bác bỏ nó.

Theo ông Trần Việt Phuong, thu ký Thủ tuớng Phạm Van Đồng: “Lê Đức Thọ và Lê Duẩn không thể dua hai con nguời dang nắm quyền và có nhiều uy tín dó di dâu nếu hai nguời không dồng ý. Việc Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp di ra nuớc ngoài duợc giải thích là dể nghi binh.

Để thế giới tin rằng, miền Bắc không thể triển khai một kế hoạch to nếu hai nhân vật quan trọng vào bậc nhất dó không có mặt ở Hà Nội”.

Những diễn biến sau dó cho thấy câu chuyện không don giản là một cuộc nghi binh. Đại tá Lê Trọng Nghia nói: “Hai muoi ngày sau khi Nguyễn Chí Thanh mất, ngày27-7-1967, Hoàng Minh

Chính bị bắt. Hon một tháng sau khi Hồ Chí Minh duợc dua tới Bắc Kinh, ngày 18-10-1967, nguời thu ký thân cận nhất của ông là Vu Đình Huỳnh cung bị bắt”. Một vụ án duợc nói là “Chống Đảng” do Truởng Ban Tổ chức Trung uong Lê Đức Thọ và Bộ truởng Công an Trần Quốc Hoàn, trực tiếp chỉ dạo, bắt dầu khởi dộng.

Cái chết của Tuớng Nguyễn Chí Thanh không làm thay dổi quyết tâm dứt diểm chiến truờng miền Nam của ông Lê Duẩn. Theo Tuớng Giáp: “Anh Thanh mất khi chỉ mới có ý dồ chiến luợc dánh vào thành phố chứ chua hề có kế hoạch tổng công kích-tổng khởi nghia vào dịp Tết Mậu Thân”. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian Võ Nguyên Giáp ở Hungary và Hồ Chí Minh ở Bắc Kinh, một kế hoạch duợc dặt tên là “Chiến dịch Quang Trung” duợc gấp rút xâydựng.

Hồ Chí Minh duợc dua về Hà Nội khi cuộc Tổng tiến công dã gần kề. Theo ông Vu Kỳ, thu ký riêng của ông, ngày 21- 12-1967, Van phòng Trung uong diện “mời Bác về dự họp Bộ Chính trị”. Ngày 23-12-1967, chuyên co chở Hồ Chí Minh về tới Gia Lâm. Ông Vu Kỳ viết: “Máy bay luợn hai vòng vẫn chua hạ cánh duợc vì dèn chỉ huy trên sân bay chệch muời lam dộ. Đồng chí lái giàu kinh nghiệm quyết tâm hạ cánh không theo dèn. Rất may là an toàn. Các dồng chí Lê Duẩn, Phạm Van Đồng, Lê Đức Thọ ra dón Bác tại sân bay, dua Bác về nhà và báo cáo công việc với Bác”223.

Ngay sau khi khách khứa rút lui, việc dầu tiên mà Hồ Chí Minh làm là gọi diện tới Quân ủy Trung uong dể hỏi tham sức khỏe Tuớng Giáp. Theo ông Vu Kỳ, khi nghe Quân ủy nói Đại tuớng dang ở nuớc ngoài, Hồ Chí Minh nhắc gửi quà và thiệp cho vợ chồng “chú Van”. Ông nói:

“Nô-en và Tết duong lịch bên ấy cung nhu Tết ta của mình. Tâm lý của những nguời xa quê huong rất mong có một món quà của tổ quốc”224. Không chỉ hiểu tâm trạng của vị tuớng dang bị dặt ra ngoài thời cuộc, theo Đại tá Lê Trọng Nghia: “Hồ Chí Minh lo cho sự an toàn của Tuớng Giáp”.

Từ Hungary, ngày 20-9-1967 Tuớng Giáp gửi thu cho Đại tá Nguyễn Van Hiếu: “Cậu Hiếu, bọn mình còn ở lại dây ít hôm nữa. Chắc Hoàng dã có thu. Rất mong thu nhà. Nhớ liên lạc với anh Thạch, anh Tiến, khi nào có doàn sang thì gửi mình”. Theo Đại tá Hiếu, “anh Thạch” và “anh

Tiến” trong bức thu này là Nguyễn Co Thạch và Hoàng Van Tiến, cựu thu ký của Tuớng Giáp, lúc dó dang công tác tại Bộ Ngoại giao. Bức thu Tuớng Giáp cho thấy ông dã bắt dầu “dói thông tin” và, thay vì duợc báo cáo qua con duờng chính thức, phải tìm hiểu tình hình trong nuớc qua những nguời tin cẩn.

Ngày 11-11-1967, Tuớng Giáp gửi cho Đại tá Nguyễn Van Hiếu lá thu thứ hai từ Hungary: “Hiếu, dã nhận duợc thu của Hiếu gửi cho doàn, sau dó nhận duợc thu dài hon viết từ truớc. Sức khỏe tôi khá hồi phục nhung chua khỏi hẳn. Hoàng sẽ nói rõ. Hiếu xem, lúc về sẽ bố trí an ở làm việc thế nào dể có thể chuẩn bị truớc. Tham các cậu ở báo Quân Đội Nhân Dân, Cục I, Cục II và các cục khác. Nghe nói bài báo của ta có chỗ lộ bí mật (Hoàng Tùng nói), nhu thế là không dúng. Ta dã cân nhắc rất kỹ”.

Theo Đại tá Hiếu, dọc lá thu viết trên postcard này, ông rất lo lắng. Tại sao tổng tu lệnh duong chức lại ban khoan “lúc về sẽ bố trí an ở làm việc thế nào?” Đại tá Hiếu kể: “Khi anh Van ở Hungary, ở nhà họp Quân ủy tôi dã nhiều lần phải chịu dựng những lời nói xấu anh Van một cách công khai. Truớc dó, Quân ủy rất doàn kết nhung, có thời gian Nguyễn Chí Thanh, Van Tiến Dung lôi kéo một số cán bộ cô lập anh Van. Truớc khi vào Nam, có thời gian Nguyễn Chí Thanh hay bóng gió: ‘Ở nhiều nuớc tổng tham muu truởng mới là tuớng, còn bộ truởng quốc phòng chỉ là anh dân sự’. Khi dó, Van Tiến Dung dã thay Hoàng Van Thái làm tổng tham muu truởng. Tuy nhiên, khi Nguyễn Chí Thanh mất, anh Van vẫn bị sốc vì cuộc chiến cần tuớng tài. Xét về nang lực, Nguyễn Chí Thanh sắc sảo hon nhiều so với Van Tiến Dung”.

Theo Đại tá Nguyễn Van Huyên, thu ký Tuớng Giáp, ông không có diều kiện dể xác minh diều mà Trần Quỳnh nói, truớc giờ dự dịnh vào Nam, Nguyễn Chí Thanh nhắc Hồ Chí Minh phải chú ý vấn dề nội bộ. Nhung, ông Huyên xác nhận, ở thời diểm ấy cung có nguời nói Tuớng Giáp chống Đảng và muốn thay Tuớng Giáp. Theo ông Huyên: “Có nguời dề nghị, Bác nói: thông thuờng ở cấp ấy con nguời có thể hành dộng nhu vậy nhung chú Giáp thì không, hon nữa ta dang dánh Mỹ và dang thắng Mỹ không thể thay bộ truởng quốc phòng”.

Theo ông Vu Kỳ, ngày 28-12-1967, Bộ Chính trị họp phiên dặc biệt ngay bên nhà của Hồ Chí Minh, có bản dồ to kê trên bục trong phòng họp và có nhiều tuớng linh dến báo cáo. Tại cuộc họp dó, theo ông Vu Kỳ: “Bộ Chính trị dề ra nhiệm vụ… dua cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một buớc phát triển cao nhất, bằng phuong pháp tổng công kích, tổng khởi nghia dể giành thắng lợi quyết dịnh. Chiều tối, sau phiên họp Bộ Chính trị kéo dài và cang thẳng, Bác trở về nhà

sàn, chân buớc chậm rãi, có lẽ có một diều gì dó khiến Bác chua thật an tâm. Cuộc họp hôm nay Bác chủ trì, ngồi ở ghế dầu bàn, dồng chí Lê Duẩn báo cáo toàn bộ vấn dề và quán xuyến việc thảo luận”225.

Ngày 1-1-1968, sau khi tham một số noi bị máy bay bắn phá ở Hà Nội, vào lúc 2 giờ 30 chiều, sau khi tiếp “Bộ Chính trị dến làm việc”, Hồ Chí Minh tiếp tục “sang Bắc Kinh duỡng bệnh” 226. Ở Hà Nội, bàn tay của Lê Đức Thọ bắt dầu siết mạnh hon.

Tại Tổng Hành dinh, sáng 6-1-1968, Đại tá Lê Trọng Nghia dang họp với Van Tiến Dung dể làm kế hoạch bảo dảm cho chiến dịch thì ông Dung nói: “Anh sang Tổng cục Chính trị gặp Song Hào”. Ông Lê Trọng Nghia kể: “Tôi sang, nguời tiếp tôi không phải là Song Hào mà là Phạm Ngọc Mậu, cục truởng Tổ chức kiêm phụ trách Bảo vệ Nội bộ. Mậu bảo: ‘Anh dể cặp, vu khí, bản dồ lại dây rồi di ngay, có nhiệm vụ Trung uong giao’. Tôi lần luợt tháo ra khỏi nguời những thứ bất ly thân, và tôi chỉ phải di sang một phòng ở gần dó. Hôm dó, vợ tôi từ noi tản cu ở Vinh Y ên về dang chờ tôi về an com dể tối lại về noi tản cu tiếp. Nhung tôi không chỉ bị giữ lại trong ngày, và cung không chỉ có một mình. Từ các nhà bên: Lê Minh Nghia, phó Van phòng Quân ủy, kiêm chánh Van phòng Bộ Tổng Tham muu, Đỗ Đức Kiên, cục truởng Cục Tác chiến… cung cùng bị bắt. Lo lắng cho một chiến dịch sắp bắt dầu, một tuần sau, lấy tu cách là bí thu Đảng Quân ủy Bộ Tổng Tham muu, tôi viết thu gửi cho Bí thu Tổng Quân ủy Võ Nguyên Giáp dặt vấn dề vì sao có việc giữ nguời này. Một thời gian sau, khi tôi dã bị di lý di noi khác, một cục phó Cục Bảo vệ tới noi tôi bị giữ, thông báo: Anh Giáp dang nghỉ, tất cả những chuyện của các anh và những chuyện trong Quân ủy bây giờ thuộc quyền giải quyết của anh Lê Đức Thọ”.

Sau khi “diều Lê Trọng Nghia” về trại giam, Cục truởng Cục Cán bộ Phạm Ngọc Mậu cho mời Chánh Van phòng Quân ủy Nguyễn Van Hiếu. Theo ông Hiếu: “Ông Mậu nói: ‘Học viện quân sự dang thiếu nguời, anh phải lên thay Hoàng Minh Thảo làm phó giám dốc. Anh nên di ngay’. Tôi hiểu là nguời ta cần tống mình di. Đến Tam Đảo biết thêm, nguời ta chỉ thị cho Học viện là tôi không duợc tham gia cấp ủy”. Nhu vậy, theo Cục truởng Quân báo Lê Trọng Nghia: “Truớc giờ nổ súng, phần lớn tác giả của Kế hoạch Mậu Thân, kể cả tác giả chính là Cục truởng Tác chiến Đỗ Đức Kiên, dều bị loại ra khỏi vòng chiến dấu”.

Để dảm bảo hoàn toàn bí mật, chỉ truớc khi nổ súng một tuần, Lê Duẩn mới triệu tập các ủy viên Trung uong về Kim Bôi họp Hội nghị Trung uong lần 14. Tại hội nghị, Bí thu thứ nhất Lê Duẩn thông báo với Trung uong rằng trong cuộc họp quan trọng này “có nhiều dồng chí vắng mặt”. Bí

thu Lê Duẩn nói: “Truớc hết, tôi xin báo cáo với các dồng chí, lần này hội nghị Trung uong chúng ta họp, có một số dồng chí Trung uong bị ốm không dến duợc, có một số dồng chí bận việc không dến duợc. Trong Bộ Chính trị cung có dồng chí bận việc không dến duợc , một số dồng chí sẽ dến, mai có dồng chí Thọ (Lê Đức Thọ), dồng chí Dung (Van Tiến Dung) sẽ dến báo

cáo”227.

Sau Hội nghị Trung uong 14, chiều 20-1-1968, Lê Đức Thọ có dến Bắc Kinh dể “báo cáo Bác Hồ”. Tuớng Giáp nhớ lại: “Sắp nổ súng thì Bác cung dang ở Bắc Kinh. Bác diện cho tôi: chú thu xếp về càng sớm, càng tốt”. Từ Hungary, Tuớng Giáp bay tới Bắc Kinh. Theo ông Vu Kỳ, sáng

25-1-1968, Hồ Chí Minh gặp riêng Võ Nguyên Giáp. Trong khi, cả “Cha già Dân tộc” và “Anh cả của Quân dội” vẫn dang “an trí” ở Bắc Kinh thì những binh doàn chủ lực miền Bắc bí mật áp sát các dô thị miền Nam. “Ngày 29 tháng Chạp ta”, vào lúc sáu giờ chiều, Hồ Chí Minh “nhận duợc diện của Bộ Chính trị và Trung uong chúc mừng Bác Hồ nam mới”228.

Cái dêm mà cả miền Nam chìm trong khói lửa của Tổng tiến công ấy, Hồ Chí Minh dang ở Bắc Kinh, “trong can phòng vắng” chỉ có ông và thu ký Vu Kỳ, “Bác” mỉm cuời nghe một em bé hát “Bé bé bồng bông… em di so tán, mai về phố Đông” và lời chúc Tết của chính mình: “Xuân này hon hẳn mấy xuân qua/ Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà/ Nam Bắc thi dua dánh giặc Mỹ/ Tiến lên!/ Toàn thắng ắt về ta!”229.

Máy bay Trung Quốc dua Tuớng Giáp về tới Hà Nội ngay trong ngày 29 Tết. Hôm sau ông mới duợc Tuớng Vu Lang, cục truởng Cục Tác chiến báo cáo “Kế hoạch Tổng công kích, Tổng khởi nghia”. Vu Lang nói: “Anh Van Tiến Dung bảo bây giờ thì có thể báo cáo toàn bộ với anh Van”. Tuớng Giáp cố giữ vẻ mặt bình thản dể giấu niềm cay dắng. Ông, vị tổng tu lệnh, dã không duợc biết một kế hoạch lớn nhu vậy cho dến truớc khi nổ súng một ngày.

Bốn ngày sau khi Chiến dịch Mậu Thân bắt dầu, một trong những nhân vật quan trọng nhất của chiến dịch, Tuớng Nguyễn Van Vịnh, bị vô hiệu hóa. Trung tuớng Nguyễn Van Vịnh, ủy viên Thuờng trực Tổng Quân ủy, duợc cử vào Trung uong Cục trao dổi Kế hoạch Mậu Thân chỉ muời ngày sau khi Tuớng Nguyễn Chí Thanh mất. Tuớng Vịnh trở lại Hà Nội vào dầu tháng 1-

1968, và chính ông là nguời báo cáo tình hình chiến truờng miền Nam với Quân ủy, là nguời trực tiếp soạn thảo Nghị quyết Trung uong 14.

Theo thu ký riêng của ông, ông Phạm Van Hùng: Chiều mồng 5 Tết Mậu Thân, ông Vịnh duợc Lê Đức Thọ mời tới nhà riêng gặp vào lúc 15 giờ. Cuộc gặp kéo dài tới chập tối nên ông Hùng

không thể chờ. Sáng hôm sau khi ông Phạm Van Hùng quay lại nhà riêng và là noi làm việc của ông Vịnh, 34 Cao Bá Quát, thì duợc ông Vịnh cho biết, ông bị ngungtất cả các chức vụ: ủyviên dự khuyết Trung uong Đảng, ủy viên thuờng trực Quân ủy, thứ truởng Bộ Quốc phòng.

Khoảng ba muoi nhân vật cao cấp dã bị bắt, phần lớn là những nguời thân cận với Tuớng Giáp nhu: Thiếu tuớng Đặng Kim Giang230, Cục truởng Cục II Đại tá Lê Trọng Nghia, Chánh Van phòng Bộ Quốc phòng Đại tá Lê Minh Nghia, Cục truởng Cục Tác chiến Đại tá Đỗ Đức Kiên, Tổng Biên tập báo Quân dội Nhân dân Hoàng Thế Dung, Phó Giám dốc Nhà Xuất bản Sự thật, nguyên tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Quảng Bình, Nguyễn Kiến Giang, Giám dốc Nhà Xuất bản Sự thật Minh Tranh,… Trừ một số nguời bị bức cung dể phải khai ra “vai trò cầm dầu của Tuớng Giáp” lờ mờ nhận thấy mục tiêu chính trị của “vụ án”, phần dông cho dến tận cuối dời không hiểu vì sao lại có vụ án này231.

Theo Trần Quỳnh, trợ lý Lê Duẩn thì, thành phần bị bắt thời gian này gồm: “Những nguời không tán thành duờng lối chống xét lại của Đảng ta, một số cán bộ cao cấp và trung cấp theo học ở truờng Đảng cao cấp Liên Xô và truờng quân sự cao cấp Liên Xô bàn kế hoạch chống lại duờng lối của Đảng. Họ lập một nhóm vận dộng thành lập một tổ chức lấy việc thay dổi Bộ Chính trị làm mục tiêu. Họ nhắm vào những nguời không dồng tình với Nghị quyết 9, truớc hết là những si quan cao cấp trong quân dội và những ủy viên trong Trung uong”. Các van bản do Lê Đức Thọ ký cung nói tới Nghị quyết 9 và quan diểm xét lại232. Nhung, trên thực tế, Nghị quyết 9 dã duợc quán triệt từ nam 1964. Nguời chủ truong xét lại ở Liên Xô, Khrushchev, khi dó cung dã bị phế truất và bị thay bởi Brezhnev. Mặc dù mở dầu vụ án bằng việc bắt Hoàng Minh Chính, hầu hết những nhân vật quan trọng bị bắt dều là thu ký của Hồ Chí Minh hoặc là những trợ thủ dắc lực của Tuớng Giáp.

Theo thu ký của Tuớng Vịnh, ông Phạm Van Hùng233: “Ông Vịnh và ông Giang dều dã cùng ở trong Quân ủy, biết nhau rất rõ. Ông Vịnh ở nhà 34 Cao Bá Quát, ông Giang ở nhà dối diện. Từ khi ông Giang ra khỏi quân dội, thỉnh thoảng vẫn qua lại nhà ông Vịnh trò chuyện. Nhiều cán bộ cao cấp khác thỉnh thoảng vẫn sang nhà ông Vịnh trò chuyện. Ông Vịnh là nguời cởi mở nhung bí mật quân sự thì không bao giờ ông ấy tiết lộ”.

Tuớng Giáp trở lại Tổng hành dinh khi không còn những cộng sự an ý nhất. “Cuộc Tổng tấn công Mậu Thân” diễn ra ngay trong dêm 30 Tết, thời diểm hai miền có thỏa thuận ngừng bắn dể nguời dân dón Xuân. Tuy có gặp trục trặc về giờ nổ súng do có sự nhầm lẫn trong việc sử dụng

giờ Hà Nội với giờ Sài Gòn; nhung, gần nhu ngay sau Giao thừa, 31-1- 1968, lẫn trong tiếng pháo mừng xuân của thuờng dân, Quân Giải phóng dồng loạt nổ súng vào 5/6 thành phố, 36/44 thị xã, 36/242 huyện lỵ, 25 sân bay,… Đặc biệt, cuộc tấn công dã gây rúng dộng với những gì mà “Việt Cộng” dã làm ở Sài Gòn và Huế.

Tuớng Giáp cho rằng: “Tổng tiến công vào một thời diểm bất ngờ là một chủ truong sáng tạo, nhung dề ra tổng khởi nghia là không phù hợp”234. Tuớng Giáp không coi Mậu Thân là chiến thắng vì theo ông: “Lúc dầu mục tiêu dề ra rất cao, tổng công kích, tổng khởi nghia, giành trọn vẹn chính quyền về tay nhân dân. Giấy bạc dã duợc in và dã duợc chuyển vào Nam235. Đồng phục cho công an vào tiếp quản thành phố cung dã duợc chuẩn bị. Đồng chí Đàm Quang Trung ở Quân khu IV dã chuẩn bị một doàn xe chở quân và quân trang vào tiếp quản thành phố. Sau này giải thích tổng công kích, tổng khởi nghia xảy ra là một quá trình là không dúng với thực tế”236. Trong Chiến dịch Mậu Thân, nguời Mỹ bắt duợc một tài liệu của tỉnh Bình Định gửi cán bộ, nói rằng: “Tổng tấn công 1.000 nam mới có một lần, sẽ quyết dịnh số phận của dất nuớc, sẽ chấm dứt chiến tranh”. Chính ông Lê Duẩn, truớc chiến dịch cung tiên doán: “Cuộc khởi nghia ta nói dây là một giai doạn cuối cùng”. Ông Duẩn tin, khi quân chủ lực tiến vào thì Sài Gòn sẽ nổi dậy237. Ngay sau khi chiến dịch bắt dầu, Lê Đức Thọ dã di thẳng vào miền Nam nắm vai trò phó bí thu Trung uong Cục. Ông ở lại cho tới tháng 5-1968, khi tình hình chiến truờng không còn dấu hiệu chiến thắng nào.

Đợt “tổng tiến công” lần thứ nhất trong Chiến dịch Mậu Thân dã tạo ra duợc yếu tố bất ngờ; tuy nhiên, Sài Gòn dã không “bị sập một cái” và không có “nửa triệu nguời cầm súng cho ta” nhu dự doán của Bí thu Lê Duẩn238. Ngay trong dợt dầu, theo Đại tá Tu Chu, chỉ huy Biệt dộng Sài Gòn, dã “có những hy sinh, tổn thất lẽ ra có thể tránh duợc”239. Nhung, không chỉ tấn công dợt dầu, theo Tuớng Giáp: “Khi yếu tố bất ngờ dã không còn vẫn kéo dài tiến công vào dô thị; chậm chuyển huớng về củng cố, mở rộng, giữ vững vùng giải phóng và làm chủ ở nông thôn do dó dã gây cho ta nhiều khó khan, tổn thất rất nặng nề”240. Từ chỗ dang giữ thế thuợng phong trên chiến truờng miền Nam, Quân Giải phóng dã phải trải qua những ngày chống dỡ trong tuyệt vọng241.

Nhung, không phải những can cứ “Việt Cộng” bị biến thành dất trắng duợc dặc tả trên truyền thông Mỹ mà là: cảnh Việt Cộng bắn nhau trong sân Tòa Đại sứ; cảnh những xác lính Mỹ

bị giết trên duờng phố Sài Gòn; cảnh Tuớng Nguyễn Ngọc Loan bắn vào dầu một tù binh trong khi hai tay anh ta bị trói.

Tuần lễ dầu tiên của tháng 2-1968, số thuong vong của lính Mỹ trong vòng một tuần dạt kỷ lục: 543 chết; 2.547 bị thuong. Ngày 27-2-1968, nguời dẫn chuong trình truyền hình có ảnh huởng lớn khi dó, Walter Cronkite, “dã truyền những làn sóng gây sốc cho toàn Nhà Trắng bằng cách dự báo sự thất bại” 242. Wall Street, một tờ báo duợc coi là dang ủng hộ Washington cung lo sợ Mậu Thân sẽ “làm hỏng các mục tiêu dáng ca ngợi ban dầu”243. Đài truyền hình NBC ngày 10-

3-

1968 bình luận: “Đến lúc chúng ta phải xác dịnh liệu việc phá hủy Việt Nam dể cứu Việt Nam có phải là diều vô nghia”244.

Ngày 31-3-1968, Tổng thống Johnson quyết dịnh “ngừng ném bom don phuong một phần trong khu vực bắc vi tuyến 20” và sẽ “ngừng ném bom hoàn toàn ngay khi các cuộc thuong luợng quan trọng bắt dầu”. Johnson tuyên bố “sẽ không có thêm lực luợng quân sự tang cuờng lớn nào duợc phái sang Việt Nam”. Cung trong ngày hôm ấy Johnson nói rằng ông sẽ không ra tái ứng cử. Phản ứng của Washington là co sở dể Hà Nội coi Chiến dịch Mậu Thân là: “Một chiến thắng dã làm lung lay tận gốc ý chí xâm luợc của dế quốc Mỹ, buộc chúng phải bắt dầu xuống thang”. “Nghị quyết 21”

Phải mất nam nam. Phải sau khi hàng vạn sinh linh của cả hai miền dã bị bom dạn nghiền nát suốt gần ba tháng ở Quảng Trị trong mùa hè nam 1972. Phải sau khi “Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác” bị tàn phá, hàng nghìn nguời bị chết bởi B52 trong mùa Giáng sinh 1972.

Ngày 27-1-1973, Hiệp dịnh Paris mới duợc ký kết.

Điều quan trọng nhất mà ông Lê Duẩn chờ dợi trong hiệp dịnh nàylà quân Mỹ rút mà quân miền Bắc không rút thì, ở trên bàn dàm phán, Kissinger dã chấp nhận từ nam 1971. Trên thực tế, ngay trong những tháng dầu nhậm chức, Nixon dã don phuong rút quân: từ 545.000 quân nam 1968, xuống còn 27.000 quân, nam 1972. Hiệp dịnh Paris 1973 chỉ giúp cho sự ra di của Mỹ có một tên gọi khác245.

Sau Hiệp dịnh Paris, theo Tuớng Giáp, ở Hà Nội: “Có nhiều ý kiến muốn giữ vững hòa bình, thực hiện hòa hợp, tạo thế ổn dịnh 5-10 nam… Cung có một kế hoạch sử dụng 3,5 tỷ dôla mà phía Mỹ hứa bồi thuờng chiến tranh dể làm vốn tích luy ban dầu. Ngay ở Tổng Hành dinh cung có ý kiến không muốn dánh trả e vi phạm hiệp dịnh”246.

Sáng 27-3-1973, tại phiên họp mở rộng của Bộ Chính trị, sau khi nghe báo cáo tình hình, Bộ truởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh dề nghị “cần tranh thủ tạo thế mạnh cho ta và có dối sách cụ thể với Mỹ” 247. Bí thu thứ nhất Lê Duẩn kết luận: “Ta cần tranh thủ xây dựng lực luợng mọi mặt ở miền Nam, miền Bắc, quy trách nhiệm của Mỹ, buộc dối phuong phải thi hành hiệp dịnh”248.

Ngày 28-3-1973, khi chủ trì họp Quân ủy Trung uong dể triển khai Nghị quyết ngày 27-3-1973 của Bộ Chính trị, Tuớng Giáp vẫn xác dịnh phuong châm tác chiến ở miền Nam là “kết hợp dánh chính quy và du kích, tác chiến với binh vận, chiến dấu với xây dựng lực luợng, tiêu diệt dịch gắn với giành dân”249. Ngày 29-3-1973, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn làm lễ cuốn cờ. Tuớng Giáp xác dịnh trong Hội nghị Quân ủy: “Đối tuợng tác chiến lúc này là quân ngụy”250.

Ngày 28-3-

1973, Bí thu Quân ủy Võ Nguyên Giáp gửi diện cho các chiến truờng, giải thích: “Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ dộng tiến công, không phòng ngự don thuần”251. Nhung, sau Hội nghị Bộ Chính trị ngày 27-3-1973, Tố Hữu cùng các dặc phái viên Nguyễn Thọ Chân, Đinh Đức Thiện, duợc cử vào Trung uong Cục phổ biến chủ truong của Bộ Chính trị theo huớng “dấu tranh chính trị là chủ yếu”, các chiến truờng phải tranh thủ thời co dể “gò cuong vỗ béo” nhằm thực hiện “hòa hợp dân tộc và thi dua hòa bình”. Cùng thời gian này, tại các co quan của Miền, theo ông Lữ Phuong, ông Trần Bạch Đằng triển khai tinh thần một bức “Thu Vào Nam” của Bí thu Lê Duẩn, theo dó, “hòa hợp, hòa giải dân tộc” là nhiệm vụ uu tiên của thời kỳ sau hiệp dịnh. Cuối nam 1972, ông Lê Duẩn dã bố trí cán bộ nghiên cứu việc hình thành và tham gia “chính phủ liên hiệp ba thành phần”. Ông Phan Van Khải, khi dó là vụ phó ở Ủy ban Kế hoạch Nhà nuớc là một trong những cán bộ duợc chọn. Đoàn của ông Khải dã vào Trung uong Cục chỉ vài tuần sau doàn của ông Tố Hữu.

Sau khi nghe Bí thu Tố Hữu vào truyền dạt tinh thần thi hành Hiệp dịnh Paris của Bộ Chính trị, Hội nghị Binh vận Miền tháng 4-1973 triển khai “nam cấm chỉ”: cấm tấn công dịch, cấm dánh dịch di càn quét, cấm bắn pháo vào dồn dịch, cấm bao vây dồn bót, cấm xây dựng ấp xã chiến dấu. Ở Khu IX, ông Võ Van Kiệt và Thuờng vụ Khu ủy ra lệnh Binh vận Khu không phổ biến chủ truong này của Binh vận Miền.

Ông Võ Van Kiệt kể, nhận duợc diện của Trung uong Cục, ông liền trao dổi ngay với Đại tá Lê Đức Anh và Thuờng vụ Khu ủy, triệu tập các tỉnh dội và don vị. Theo ông Kiệt, bản thân các

don vị khi nghe nội dung chủ truong này dã cảm thấy rằng, “chắc chắn Khu ủy sẽ có chỉ dạo khác”. Truớc dó, ngày 2-2-1973, ở Khu IX, ông Võ Van Kiệt triệu tập Hội nghị Thuờng vụ Khu ủy, “quán triệt” cấp duới rằng không duợc “mo hồ ảo tuởng” về hòa bình.

Tổng thống Nguyễn Van Thiệu cung hoàn toàn không “mo hồ” khi ngầm triển khai một chiến dịch gọi là “tràn ngập lãnh thổ” nhằm chiếm 85% dất dai và kiểm soát 95% dân chúng miền Nam bốn muoi lam giờ truớc khi Hiệp dịnh Paris có hiệu lực. Ngày 3-3-1973, ba muoi tiểu doàn của Việt Nam Cộng hòa dã ồ ạt dánh vào Chuong Thiện, dự kiến trong bảy ngày sẽ chiếm xong các mục tiêu, bịt cửa ngõ U Minh. Nhung, các mui tiến công dều bị chặn dứng, Khu IX tổ chức tấn công trên toàn dịa bàn Quân khu.

Truớc các nhà lãnh dạo Khu ủy và Quân khu, ông Kiệt khi ấy vừa trở thành ủy viên chính thức Trung uong Đảng, tuyên bố: “Mệnh lệnh tối cao lúc này là phải giữ dất, giữ dân”. Ông Kiệt nhớ lại: “Chua có cuộc họp nào mà tất cả các noi về nhanh thế. Hội nghị chỉ kéo dài một buổi rồi tất cả lại phấn khởi dòi về ngay dể giữ dất”. Nhung, nhiều noi cho rằng “Khu ủy Tây Nam Bộ xé Hiệp dịnh Paris”. Trung uong Cục diện yêu cầu “Khu IX phải thấy tình hình mới”.

Bộ Tu lệnh Miền phê bình và thông báo toàn Miền, dồng thời ra lệnh cho Đại tá Anh rút hai trung doàn chủ lực về phía sau rèn luyện nếu không sẽ “dua Đại tá Lê Đức Anh ra Toà án binh”. Đại tá Anh sau khi trao dổi với ông Kiệt trả lời Bộ Tu lệnh: “Cho phép Quân khu IX thi hành chủ truong của Thuờng vụ Khu ủy”. Ông Võ Van Kiệt diện cho Trung uong Cục và Bộ Chính trị: “Nếu không chống dịch lấn chiếm, dể mất dất, mất dân lúc này là mất tất cả”.

Sau khi nhận duợc diện của ông Kiệt, Bí thu thứ nhất LêDuẩn cho triệu tập dại diện các khu, dại diện Trung uong Cục, dại diện Bộ Tu lệnh Miền ra Hà Nội. Ngày 19-4-1973, các dại diện miền Nam, Phó Bí thu Trung uong Cục Nguyễn Van Linh, Tu lệnh miền Nam Hoàng Van Thái, Bí thu Khu IX Võ Van Kiệt dã có mặt ở Hà Nội, báo cáo với Bộ Chính trị tại nhà khách Hồ Tây.

Ông Lê Duẩn có một phuong pháp làm việc duợc Võ Van Kiệt gọi là “bỏ túi nghị quyết”. Nghia là, khi xuống co sở dể triển khai nghị quyết thay vì bắt buộc co sở phải chấp hành những gì cấp ủy dã ban hành, phải lắng nghe xem, nghị quyết dề ra nhu vậy dã phù hợp chua, nếu không phù hợp thì phải diều chỉnh nghị quyết chứ không phải diều chỉnh cuộc sống. Ông Kiệt gọi cách là dó là “dua cuộc sống vào nghị quyết”.

Khi những cán bộ chiến truờng nhu ông Kiệt ra tới Hà Nội, ông Lê Duẩn yêu cầu các ủy viên Bộ Chính trị, các bộ, ngành phải dành dủ thời gian dể nghe tình hình từng chiến truờng. Ông Duẩn

cung chỉ thị cho những cán bộ từ chiến truờng ra: “Bất cứ ủy viên trung uong nào cần nghe là phải báo cáo”. Bản thân ông Lê Duẩn cung cần tìm kiếm sự nhất trí cao trong Trung uong. Theo ông Kiệt thì khi ông mới ra Bắc, ông Tố Hữu vẫn còn gặp nhiều lần dể “thuyết phục Khu IX thi hành nghị quyết gò cuong vỗ béo”.

Đó là lần dầu tiên ông Võ Van Kiệt ra Hà Nội, lần dầu tiên làm việc nhiều với Bộ Quốc phòng, trong dó có Đại tuớng Võ Nguyên Giáp. Tuớng Lê Hai chỉ vào “lõm Tây Nam Bộ” trên bản dồ rồi hỏi: “Giữ duợc không?”. Ông Kiệt nói: “Sẽ mất nếu rút lui. T3252 cung tùy thuộc vào cái thế chung của chiến truờng. Nếu cả chiến truờng tiếp tục tiến công, T3 sẽ giữ duợc. Nếu chiến truờng rút, T3 mất”. Không nhu các tuớng Lê Hai, Van Tiến Dung, bộc lộ khá rõ chính kiến, Tuớng Giáp nghe rất kỹ và hỏi rất cặn kẽ, nhung gần nhu không bộc lộ quan diểm của ông và của Bộ Chính trị về việc thi hành Hiệp dịnh. Chỉ một lần, ông nói: “Hoàn toàn ẩn cung có lợi cho dân, nhung, dánh lại nhu T3 là tích cực”.

Khi ấy ông Võ Van Kiệt chua biết, trong vị thế khó khan của mình, Tuớng Giáp phải rất giữ gìn, tuy nhiên không phải tự nhiên mà ông dánh giá “T3 tích cực”. Từ giữa tháng 4-1973, Tuớng Giáp dã cho lập “Tổ Trung tâm” dể xây dựng “dề cuong kế hoạch chiến luợc” mang bí số “305 TG1”. Tổ do một vị tuớng tâm phúc của ông phụ trách: Phó Tổng Tham muu truởng Lê Trọng Tấn.

Mùa hè nam 1973, Bí thu thứ nhất Lê Duẩn cho gọi Tuớng Lê Hữu Đức lên và truớc khi ra về, ông hỏi: “Bộ Tổng Tham muu dang làm gì?”. Ông Đức: “Dạ dang dự thảo kế hoạch chiến luợc giải phóng miền Nam”. Lê Duẩn: “Thế tôi nghe duợc không?”. Theo Tuớng Đức thì sau khi nghe, Lê Duẩn lệnh cho cả Tổ Trung tâm sang trình bày kế hoạch cho ông nghe. Buổi chiều, Lê Trọng Tấn, Vu Lang cùng Lê Hữu Đức quay lại trình bày chi tiết. Lê Duẩn nói: “Tôi dang suy nghi nhu vậy. Hôm nay nghe xong, Tổ Trung tâm lại củng cố suy nghi dó của tôi. Tôi sẽ báo cáo Bộ Chính trị”.

Việc báo ra Bộ Chính trị một “vấn dề tuyệt mật” dã làm cho các sỹ quan tác chiến lo lắng, Tuớng Lê Trọng Tấn sau dó dã phải di báo cáo xin ý kiến Van Tiến Dung và Tuớng Giáp. Ông Hồ Ngọc Đại, con rể và là nguời sống cùng ông Lê Duẩn trong dinh thự số 6 Hoàng Diệu kể: Một lần khi vừa chạy xe suốt nửa ngày từ Hà Nội xuống Đồ Son thì ông Duẩn nhận duợc diện thoại của Tuớng Lê Trọng Tấn dề nghị duợc báo cáo tình hình cho tổng bí thu. Lê Duẩn dịnh kêu Tuớng Tấn xuống Đồ Son nhung ông Tấn không chịu vì theo nguyên tắc, bí mật quân sự chỉ

có thể duợc nói trong tổng hành dinh. Thế là Lê Duẩn lại phải quay xe về Hà Nội dù khi ấy duờng rất xấu253.

Cung trong thời gian từ tháng 3 dến tháng 8-1973, khi Trung uong dang nghe các chỉ huy chiến truờng báo cáo và xác dịnh huớng chiến luợc sau Hiệp dịnh Paris, ở Khu IX, Quân lực Việt Nam Cộng hòa liên tiếp mở các trận càn vào Chuong Thiện với lực luợng lên tới bảy muoi lam tiểu doàn. Khu IX dã ngan chặn thành công nỗ lực này của Sài Gòn. Theo Tuớng Lê Đức Anh thì Trung doàn 1, khi ấy do ông Phạm Van Trà chỉ huy, dã dóng vai trò tích cực. Tháng 5-1973, khi

Bộ Chính trị quyết dịnh họp mở rộng ở Đồ Son, theo Tuớng Giáp: “Không còn ai nghi tới nghỉ ngoi, hòa hoãn nữa”254.

Ông Võ Van Kiệt nhớ lại: “Hội nghị Trung uong 21 không còn phê phán Khu IX và quyết dịnh sửa dổi chủ truong”. Hội nghị Trung uong 21, khai mạc tháng 6-1973 và thông qua lần cuối vào ngày 4-10-1973, xác dịnh: con duờng cách mạng ở miền Nam là con duờng bạo lực”. Tuớng Trần Van Trà cho rằng: “Nếu nhu từ nam 1973, chúng ta tin bằng cách này hay cách khác, Hiệp dịnh Paris sẽ duợc thi hành giống nhu chúng ta dã tin hai nam sẽ có tổng tuyển cử hồi Hiệp dịnh Geneva… thì tình hình dã không nhu bây giờ”255. “Bây giờ” mà Tuớng Trà dề cập là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, trận dánh cuối cùng của Quân Giải phóng.

Khoảng một tháng sau khi ông Lê Đức Anh từ Hà Nội quay lại Bộ Tu lệnh Miền, Hà Nội công bố quyết dịnh phong quân hàm vuợt cấp lên trung tuớng cho hai dại tá: Lê Đức Anh và Đồng Sỹ Nguyên, tu lệnh Bộ dội Truờng Son.

Chiến dịch Hồ Chí Minh

Điều mà Bí thu thứ nhất Lê Duẩn lúc ấy ban khoan là nguời Mỹ sẽ phản ứng thế nào khi vẫn “bạo lực” sau Hiệp dịnh. Có lẽ nhu lời một bài hát lúc dó: “Vận nuớc dã tới rồi”. Ngay trong nam 1973, Nixon bị cuốn vào vụ bê bối Watergate khiến ông phải từ chức. Ngày 1-9-1974,

Gerald Ford lên thay Richard Nixon. Theo Kissinger, nguời tiếp tục duợc Tổng thống Ford giữ lại làm ngoại truởng: “Quyết dịnh dầu tiên của tổng thống là phản ứng nhu thế nào dối với khoản viện trợ không tuong xứng cho Việt Nam”256.

Ngân sách dành cho Sài Gòn dã giảm từ 2,1 tỷ dôla nam 1973 xuống còn 1,4 tỷ dôla nam 1974 và chỉ còn 700 triệu cho nam tài khóa 1975. Cho dù mức mà Nixon truớc dó dề nghị vẫn là 1,4 tỷ dôla. Theo “bản ghi nhớ” ngày 12-9-1974

Kissinger chuyển cho Ford thì ngay cả khi Quốc hội Mỹ chuẩn thuận mức viện trợ quân sự 700 triệu dôla, thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa khó có khả nang kháng cự257. Tính tới tháng 9-

1974, 26.000 binh si Việt Nam Cộng hòa dã bị tử trận kể từ khi ký Hiệp dịnh Paris. Thế nhung, Thuợng viện Mỹ không những không tang viện trợ theo dề nghị của tổng thống mà còn cắt di 300 triệu.

Đầu nam 1974, khi tình hình bắt dầu “nuớc sôi lửa bỏng”, trong một chuyến công tác, Tuớng Giáp bị dau bụng dữ dội rồi ngất dột ngột. Ông kể, “khi tỉnh lại tôi thấy mình dang nằm trong máy bay trực thang cấp cứu”258. Do Viện Quân y 108 không chẩn doán ra bệnh, Bộ Chính trị quyết dịnh dua Tuớng Giáp sang Liên Xô bằng một chuyến chuyên co. Tại Moscow có lúc tim ông dã ngung dập trong mấy giây và truớc khi chấp nhận một cuộc dại phẫu thuật bệnh sỏi mật, ông dã viết “mấy diều dặn dò dể lại”. Tháng 4-1974, sau khi Tuớng Giáp hồi phục, Liên Xô dã bố trí một máy bay dể dua ông trở về Hà Nội. Khi ấy, Van Tiến Dung cung bị ốm phải dua di chữa bệnh ở nuớc ngoài.

Theo Tuớng Giáp: Mùa hè nam 1974, khi cùng di nghỉ ở Đồ Son, Lê Duẩn dã bàn với ông một loạt các vấn dề chiến luợc và khi thấy sức khỏe của Tuớng Giáp dã ổn sau khi mổ sỏi mật ở Liên Xô về, Lê Duẩn nói với Tuớng Giáp: “Công việc rất quan trọng, khẩn truong. Anh nắm lấy mà làm”. Ở Đồ Son, Tuớng Giáp vừa an duỡng, vừa hoàn thành dự thảo lần thứ sáu “kế hoạch chiến luợc giành thắng lợi ở miền Nam”. Ông vừa di bộ quanh bán dảo Đồ Son, khi ấy là một khu chỉ dành riêng cho Trung uong, vừa trao dổi với những cán bộ di cùng. Tuy nhiên, theo ông, kế hoạch chiến luợc duợc giữ tuyệt mật, ông chỉ dọc ra cho Đại tá Võ Quang Hồ, cục phó Cục Tác chiến viết từng phần.

Khi Bộ Chính trị bàn “kế hoạch giải phóng miền Nam”, theo Trung tuớng Lê Hữu Đức: Hai hội nghị dầu suôn sẻ, nhung từ hội nghị thứ 3 cho dến hội nghị thứ 6, sau khi Lê Duẩn gợi ý thảo luận phuong án tổng khởi nghia, tức là dùng chủ lực dánh vào dầu não nhu hồi Mậu Thân rồi phát dộng nhân dân nổi dậy. Bộ Chính trị chuyển sang sôi nổi bàn về phuong án tổng khởi nghia. 7/11 ủy viên Bộ Chính trị ủng hộ ý kiến này của Lê Duẩn. Tuớng Giáp chỉ còn có hai ủy viên ủng hộ phuong án tổng công kích.

Theo Tuớng Lê Hữu Đức: “Kể từ khi Lê Duẩn ra Bắc, Tuớng Giáp thuờng rất don dộc, những tuớng linh trong Quân ủy nhu Van Tiến Dung, Song Hào, Lê Quang Đạo, Trần Quý Hai thuờng ngả theo ý kiến của ông Lê Duẩn. Lê Trọng Tấn là một vị tuớng tài và trung thành với Tuớng

Giáp nhung khi ấy ông chua là uỷ viên Trung uong”. Tuy nhiên, theo Tuớng Lê Hữu Đức, “rất may là Bộ Chính trị dã không buộc thiểu số phục tùng da số” và Tuớng Giáp thì dã kiên trì thuyết phục.

Từ Hội nghị lần thứ 7, Bộ Chính trị bắt dầu chấp nhận phuong án “tổng công kích” của Tuớng Giáp. Tuớng Lê Hữu Đức, thời gian ấy là cục truởng Cục Tác chiến, thuờng xuyên phải làm việc với LêDuẩn và trực tiếp ghi chép các ý kiến khác nhau trong Bộ Chính trị, kể: “Anh Lê Duẩn cứ cằn nhằn tôi: sao Cục Tác chiến không thích tổng khởi nghia. Khi phuong án ‘tổng công kích’ duợc chọn rồi, ông lại nói: dã tổng công kích sao không công kích thẳng vào Sài Gòn mà lại chọn Buôn Mê Thuột?”.

Kế hoạch dánh Buôn Mê Thuột duợc Tuớng Giáp trao dổi với Tuớng Dung chi tiết trong một cuộc gặp có mặt Tuớng Hoàng Van Thái ngay truớc khi Van Tiến Dung vào miền Nam. Theo Tuớng Giáp: từ giữa nam 1973, Tổ Trung tâm dã chọn huớng chiến luợc là Tây Nguyên và trong một buổi làm việc, Tuớng Hoàng Minh Thảo cho rằng, khi dã chọn huớng Tây Nguyên thì truớc hết nên dánh Buôn Ma Thuột259. Tuớng Giáp, Tuớng Dung dều nhất trí với lựa chọn này.

Theo Tuớng Lê Hữu Đức: “Tháng 1-1975, ngay sau khi Lê Duẩn tán thành mở dầu cuộc tổng tiến công vào Buôn Mê Thuột Tuớng Giáp ra lệnh cho Tuớng Lê Trọng Tấn: kiên quyết phải làm duờng vào sát Buôn Mê Thuột, phải có xe tang, pháo lớn mới dánh dòn quyết dịnh duợc. Khi ta làm chủ Buôn Mê Thuột, Tuớng Giáp nói với chúng tôi: tình hình này không loại trừ dịch rút khỏi Tây Nguyên. Hôm dó là ngày 11-3-1975, ngày 26-3-1975, dúng nhu dự doán của anh, Ngụy rút”.

Sáng 11-3-1975, ngay sau khi có tin Tuớng Van Tiến Dung làm chủ hoàn toàn Buôn Ma Thuột, bao vây Kon Tum, Pleiku, Bộ Chính trị và Thuờng trực Quân ủy Trung uong nhóm họp, nhất trí dánh giá: “Ta có khả nang giành thắng lợi to lớn với nhịp dộ nhanh hon dự kiến và dồng ý kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tham muu”. Trong một không khí rất hào hứng, gần cuối buổi họp, Lê Duẩn nói: “Truớc ta dự dịnh hai nam giải phóng miền Nam, nay tiếp theo Phuớc Long có Buôn Ma Thuột, ta có thể dẩy mạnh hon không? Đề nghị Bộ Chính trị và các anh bên Quân ủy suynghi xem ta dã có thể chuyển sang tổng tiến công chiến luợc trên toàn miền Nam chua?”. Theo Tuớng Lê Hữu Đức: “Anh Van là nguời dầu tiên nhất trí với dề xuất của anh Ba. Tiếp dó, các dồng chí trong Bộ Chính trị dều tán thành”260.

Từ ngày 11-3-1975 cho dến khi quân dội Sài Gòn rút chạy khỏi Tây Nguyên, Đại tuớng Võ

Nguyên Giáp hầu nhu làm việc tại Cục Tác chiến. Ông trực tiếp dọc hết các diện chiến truờng gửi về. Cục truởng Tác chiến Lê Hữu Đức có trách nhiệm hằng ngày vào lúc 19 giờ, tới nhà riêng ông Lê Duẩn báo cáo diễn tiến chiến truờng và các kế hoạch tác chiến. Với tu cách là tổng tu lệnh trong chiến dịch, Tuớng Giáp nắm vấn dề bao quát và dặc biệt liên hệ chặt chẽ với các tu lệnh chiến truờng.

Theo Tuớng Lê Hữu Đức, sau khi quân dội Sài Gòn rút chạy khỏi Tây Nguyên, Tuớng Giáp và Thuờng trực Quân ủy nhất trí nên tác chiến phát triển về phía Đông, bố trí cụ thể sẽ do Tuớng Van Tiến Dung quyết dịnh. Tuớng Lê Hữu Đức nói: “Anh Van chỉ thị tôi sang báo cáo xin ý kiến chỉ dạo của anh Ba. Nghe xong, anh Ba tỏ ý phân vân. Từ nam 1972, anh Ba vẫn muốn tập trung lực luợng chủ lực, dể khi có diều kiện, dánh uy hiếp Sài Gòn, giành thắng lợi quyết dịnh. Ý anh là khi Tây Nguyên giải phóng, việc tiêu diệt dịch và giải phóng các tỉnh ven biển miền Trung nên giao cho Quân khu V, lực luợng còn lại của Tây Nguyên nên tiến về Lộc Ninh, dánh vào Sài Gòn càng sớm càng hay. Nhung, khi ấy các mặt chuẩn bị chiến truờng, hiệp dồng tác chiến quy mô lớn chua duợc chuẩn bị. May mà lúc ấy, anh Dung cung diện ra dề nghị cho phát triển về huớng Đông, phù hợp với Quân ủy Trung uong. Chúng tôi báo cáo lần nữa và duợc anh Ba dồng ý”261.

Nhận duợc tin, Tu lệnh chiến truờng Van Tiến Dung gửi Tổng Tu lệnh Võ Nguyên Giáp bức diện số 107: “Đêm qua tôi không ngủ duợc về ý dịnh của tôi với chỉ thị phải tập trung Su 10 về. May quá hai muoi lam phút sau thì nhận duợc diện của anh. Tôi mừng quá về sự tâm dầu ý hợp của lãnh dạo và nguời ở chiến truờng”262.

Tuớng Giáp dự dịnh di ngay vào Vinh Linh. Trực thang dã sẵn sàng. Nhung ông quyết dịnh ở lại vì “tình hình chiến truờng phát triển quá nhanh”, Tổng Tu lệnh không thể rời Tổng Hành dinh.

Sau ngày 18-3-1975, khi Bộ Chính trị họp tại Nhà Con Rồng, nhất trí dề nghị của Quân ủy, “giải phóng miền Nam trong nam 1975”, Tuớng Giáp di vào Ninh Bình, ông quyết dịnh dua vào Nam Quân doàn I, Quân doàn cuối cùng ở miền Bắc. Khi ấy Quân doàn I dang giúp dân dắp dê ở Ninh Bình theo kế hoạch nghi binh, nhận lệnh báo dộng, nhanh chóng theo trục Quốc lộ l hành quân vào Nam, chỉ dể lại Su doàn 308 ở khu vực Hà Tây làm nhiệm vụ dự bị và bảo vệ Hà Nội. Truớc dó, từ ngày 17-3, Tuớng Giáp liên tiếp gửi các “diện” dến Bộ Tu lệnh Trị Thiên và Bộ Tu lệnh Quân doàn II dôn dốc dua lực luợng xuống dồng bằng, chia cắt chiến luợc giữa Huế và Đà

Nẵng, cho phép sử dụng xe tang và pháo lớn dể tang thêm sức dột kích, nâng cao tốc dộ tấn công. Tuớng Giáp phê bình Tuớng Lê Trọng Tấn khi ông dịnh lập kế hoạch trong vòng nam ngày, trong khi theo Tuớng Giáp, khả nang quân dội Sài Gòn rút chạy là cao và Tuớng Tấn chỉ có ba ngày dể giải quyết chiến truờng Đà Nẵng.

Ngày 24-3, Bộ Chính trị và Quân ủy họp, hạ quyết tâm: “Hành dộng nhanh chóng táo bạo, bất ngờ dánh cho dịch không kịp trở tay, giải phóng Sài Gòn truớc mùa mua 1975”. Bộ Chính trị cung thông qua kế hoạch lập Mặt trận Quảng Đà, lấy mật danh là “Mặt trận 475” do Trung tuớng Lê Trọng Tấn làm tu lệnh, Thuợng tuớng Chu Huy Mân làm chính ủy, Trung tá Lê Phi Long duợc cử làm truởng Phòng Tác chiến cánh quân này.

Sáng 25-3, Tuớng Lê Trọng Tấn nhận những chỉ thị cuối cùng của Tuớng Giáp và ngay chiều hôm dó, ông cùng bộ phận chủ yếu của co quan chiến dịch di máy bay vào sân bay Quảng Bình, sau dó duợc chuyển tiếp bằng trực thang vào Quảng Trị. Bộ Tu lệnh 475 dến vùng núi Tây Huế và chuyển theo duờng 72 ra Động Truồi, dịnh dể chỉ huy dánh Huế, Đà Nẵng, nhung theo ông Lê Phi Long: “Giữa duờng thì duợc tin quân ta dã giải phóng Huế vào chiều 25-3”. Không còn phải dánh nhau ở Huế, Quân doàn I duợc lệnh quay lại Quảng Trị, chuyển trục hành quân từ Quốc lộ l sang duờng Truờng Son. Ba vạn nguời cùng với l.053 xe pháo các loại, rầm rộ tham gia cuộc hành quân thần tốc, ngày 16-4 thì vào dến Đồng Xoài.

Thấy tình hình “chắc an”, ngay sau Hội nghị Bộ Chính trị, Lê Đức Thọ “xung phong” vào chiến truờng, ông rời Hà Nội vào ngày 28-3-1975. Nhu vậy, tại Bộ Chỉ huy Chiến dịch “giải phóng miền Nam” có tới ba ủy viên Bộ Chính trị: Lê Đức Thọ, Phạm Hùng và Van Tiến Dung. Ngày

14-4-1975, Bộ Chỉ huy Chiến dịch diện ra Hà Nội dề nghị dặt tên chiến dịch: Hồ Chí Minh. Một tuần truớc dó, ngày 7-4, Tuớng Giáp dã lệnh cho “Cánh quân Duyên Hải”263 phải “thần tốc và táo bạo”264 còn Tuớng Lê Trọng Tấn thì khi ấy cung dã chuẩn bị mọi mặt dể thắng trong “trận cuối cùng”.

Theo kế hoạch, ngày 27-4-1975 các huớng sẽ bắt dầu tiến dánh dể ngày 29-4-1975, cả “Nam cánh quân” dồng loạt dánh vào Sài Gòn. Tuy nhiên, theo Tuớng Lê Hữu Đức, tối 24-4 265, Tu lệnh Cánh quân Duyên Hải, Tuớng Lê Trọng Tấn dã diện ra xin cho Quân doàn II và Quân doàn IV tiến công vào lúc 17 giờ ngày 26-4, vì nếu ngày27 mới bắt dầu nhu các cánh quân khác thì sẽ không kịp “cùng lúc nổ súng”. Cánh quân Duyên Hải lúc dó còn phải vuợt qua hai con sông lớn: sông Đồng Nai và sông Sài Gòn.

Đọc bức diện khi dêm dã khuya vì vừa phải lần luợt dến tận nhà riêng của các vị Lê Duẩn, Truờng Chinh, Phạm Van Đồng báo cáo, nhung thấy tình hình khẩn cấp, Tuớng Đức quyết dịnh dánh thức Tuớng Giáp. Xem xong bức diện, Tuớng Giáp dồng ý ngay với Tuớng Tấn. Tuy nhiên, rất thận trọng, ông dã cùng với cục truởng Tác chiến mang bản dồ dến nhà Bí thu thứ nhất Lê Duẩn.

Sau khi dể Tuớng Đức dọc bức diện của Tuớng Tấn xong, Võ Nguyên Giáp nói: “Đề nghị anh Ba cho dánh theo diện báo cáo của Tấn”. Theo ông Lê Hữu Đức: Anh Ba nói ngay: “Đánh, dánh, cứ dánh ngay anh ạ! Bây giờ không chờ nhau nữa.

Lúc này cánh quân nào thuận lợi thì cứ phát triển”. Anh Van hỏi thêm anh Ba: “Điện trả lời ký tên anh chứ?” 266. Anh Ba nói: “Không, anh là tổng tu lệnh, cứ ký tên anh thôi”. Sau một thoáng suy nghi, anh Ba nói thêm: “Nếu cần thì dể cả tên tôi cung duợc, hoặc nói rõ dã trao dổi với anh Ba và anh Ba hoàn toàn dồng ý”267. Cung trong ngày 24-4, Tuớng Tấn cử Truởng phòng Tác chiến Cánh quân phía Đông Lê Phi Long trực tiếp dến Sở Chỉ huy Chiến dịch và Tuớng Dung cung dồng ý dể Cánh quân phía Đông dánh truớc.

Ngày 30-4-1975, 10 giờ 50, Cục II báo cáo Tổng Hành dinh: “Quân ta dã vào dinh Tổng thống Ngụy”; 11 giờ 30, cục phó Co yếu mang vào phòng họp bức diện của Tuớng Lê Trọng Tấn báo cáo, “một don vị thuộc Cánh quân phía Đông dã cắm cờ trên Dinh Độc Lập”. Chiều hôm ấy, Tuớng Giáp kể: “Tôi lên xe di một vòng quanh Hà Nội. Cả một rừng cờ hoa dậy lên tự lúc nào. Nguời di chật phố, chật duờng nhu trẩy hội”.

“Thống chế di dặt vòng”

Tháng 12-1976, tại Đại hội IV, tuy vẫn còn là bộ truởng Bộ Quốc phòng, nhung theo thứ bậc mới trong Bộ Chính trị, Tuớng Giáp bị xếp sau Lê Đức Thọ. Nam 1977, Tuớng Giáp thôi chức bí thu Quân ủy Trung uong, theo Điều lệ mới, chức vụ này sẽ thuộc về tổng bí thu. Nam 1980, ông phải giao chức bộ truởng Quốc phòng cho Đại tuớng Van Tiến Dung268. Truớc Đại hội Đảng lần thứ V, “Vụ án chống Đảng” tuởng dã khép lại từ nam 1967, lại duợc ông Lê Đức Thọ dua ra bàn trong Bộ Chính trị.

Trong buổi Bộ Chính trị họp nghe “Vụ án chống Đảng”, theo ông Võ Van Kiệt 269: “Anh Thọ cung dua ra những thông tin nhu Trần Quỳnh 270 kể nhung anh Giáp bác bỏ. Tuy nhiên, anh Thọ vẫn kết luận. Bộ Chính trị không có co sở gì dể quyết khác với những diều anh Thọ nói.

Anh Lê Duẩn không nói gì, anh Phạm Van Đồng không nói gì. Có thể có những ủy viên Bộ Chính trị biết vấn dề anh Giáp nhung tôi thì không biết”.

Về sau ông Kiệt chất vấn ông Phạm Van Đồng: “Anh hiểu anh Giáp, anh có tiếng nói trong Bộ

Chính trị, dó là cái gì?”. Ông Đồng chỉ nói: “Tôi cung biết uy tín anh Giáp trong dân”, rồi cuời. Ông Kiệt nói: “Uy tín trong dân của một con nguời là không thể xem thuờng. Nếu khai thác duợc uy tín dó của anh Giáp thì sẽ có lợi cho dân cho nuớc. Tôi không dồng tình với cách cu xử của một số anh với anh Giáp. Tôi kính trọng sức kiềm chế của anh. Đó cung là bản linh, nghị lực của một nhân vật lớn”.

Theo Giáo su Hồ Ngọc Đại, con rể ông Lê Duẩn, một hôm ông Giáp gọi diện thoại kêu ông Đại tới nhà, ông Đại nói: “Ông Giáp hẹn tôi 13 giờ, nhung 15 giờ tôi mới dến. Gặp, ông bảo là dã chờ tôi lâu lắm rồi. Ông khoác vai tôi rồi nói: Đại dua hộ thu này trực tiếp tới anh Ba giúp nhé. Té ra chiều hôm dó có cuộc họp bàn về vấn dề của Tuớng Giáp. Tối tôi dua thu cho ba tôi, ông nói: tào lao”. Ông Hồ Ngọc Đại kể tiếp: “Có lần, tôi sang nhà số 2 Nguyễn Cảnh Chân chúc Tết Lê Đức Thọ. Tới noi, tôi thấy ông Giáp cung vừa dến. Từ trong nhà ra, ông Thọ di qua truớc mặt mà không thèm chào ông Giáp một câu, buớc dến ôm lấy tôi. Có lần ông Thọ nói ông còn dể cái dầu ông Giáp trên cổ là dã may lắm”.

Tại Đại hội V, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Trần Quốc Hoàn, Lê Van Luong và Nguyễn Van Linh duợc dua ra khỏi Bộ Chính trị. Ông Hoàng Tùng cho rằng: “Lê Đức Thọ phải dua cùng lúc nam nguời ra khỏi Bộ Chính trị dể khỏi mang tiếng nhung thực chất của việc thay dổi này là nhằm vào ông Giáp”. Tuy nhiên, theo ông Hoàng Tùng: “Truớc dó, cả ông Thọ và ông Lê Duẩn dều nhiều lần công khai dánh giá thấp khả nang, kể cả khả nang cầm quân, của Tuớng

Giáp”.

Nam 1983, Đại tuớng Võ Nguyên Giáp duợc giao kiêm nhiệm chức chủ tịch Ủy ban Quốc gia về sinh dẻ có kế hoạch trong khi Tố Hữu vào Bộ Chính trị giữ chức phó thủ tuớng thuờng trực. Dân gian truyền nhau: “Nhà tho làm kinh tế/ Thống chế di dặt vòng”.

Nam 1984, Nhà nuớc tổ chức nhiều hoạt dộng kỷ niệm “30 nam chiến thắng Điện Biên Phủ”, báo chí dang hàng loạt hồi ký, bài viết của cả nguời Việt và nguời Pháp. Các bài viết dang trên báo Nhân Dân từ tháng 3 dến tháng 5-1984, trong khi nói rất kỹ về Henri Navarre và Christian de Castries, dã không hề nhắc tên Võ Nguyên Giáp, vị tu lệnh chiến dịch dã dánh bại hai viên tuớng Pháp này.

Ngày 7-5-1984, dúng ngày kỷ niệm chiến thắng, báo Nhân Dân dang trên trang nhất bức ảnh chụp Hồ Chí Minh, Truờng Chinh, Võ Nguyên Giáp, nhung thay vì nêu tên từng cá nhân, Nhân Dân chỉ chú thích: “Bộ Chính trị Trung uong Đảng quyết dịnh chủ truong tác chiến Đông-Xuân 1953-1954”. Các bài viết trên tờ Quân Đội Nhân Dân cung không có tên “Võ Nguyên Giáp”.

Theo Đại tá Nguyễn Van Huyên, khi Đại tuớng Hoàng Van Thái công bố hồi ký Điện Biên Phủ-

Chiến Dịch Lịch Sử, dang nhiều kỳ trên báo Quân Đội Nhân Dân, trong mấy kỳ dầu, tờ báo này dã tự ý cắt bỏ tên của Tuớng Giáp. Khi có sự kiện bắt buộc phải nhắc dến vai trò của ông, báo Quân Đội Nhân Dân bèn gọi theo chức vụ “tổng tu lệnh” hoặc “bí thu Tổng Quân ủy” thay vì gọi “Đại tuớng Võ Nguyên Giáp” hoặc “anh Van” thân mật. Tuớng Hoàng Van Thái nổi giận dòi ngung, tên của Tuớng Giáp thỉnh thoảng mới xuất hiện trở lại trên tờ Quân Đội Nhân Dân trong hồi ký của ông Hoàng Van Thái.

Tờ Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân trong hai ngày 7 và 8-5-1984 dã dành gần nhu toàn bộ 4 trang A3 dể nói về Điện Biên. Nhung, trong xã luận, trong các bài diễn van dã không hề có tên Tuớng Giáp. Trên số báo ra ngày 8-5-1985, hai tờ Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân cùng dua tin về lễ “Mít tinh trọng thể kỷ niệm lần thứ 30 chiến thắng Điện Biên Phủ” tổ chức tại Hà Nội vào chiều 7-5, cùng nhắc tới Võ Nguyên Giáp trong danh sách “Đoàn Chủ tịch cuộc mít tinh”, nhung chỉ bằng một cái tên trống không – xếp sau Phạm Hùng, Van Tiến Dung, Chu Huy Mân, Nguyễn Hữu Thọ – không “dại tuớng”

và không nói gì tới vai trò của ông trong “chiến thắng” mà “cả nuớc” dang “nức lòng ca ngợi” ấy271.

Trong khi dó, báo chí dầu thập niên 1980 lại dang dồn dập nhiều loạt bài mô tả vai trò của Bí thu Lê Duẩn nhu là một “tổng tu lệnh trên thực tế” của cuộc “kháng chiến chống Mỹ”272. Trong loạt bài Thời Thắng Mỹ, Thép Mới dẫn lời Lê Đức Thọ kể chuyện nam 1955, LêDuẩn dã tiên tri cuộc chia tay Bắc-Nam sẽ kéo dài hai muoi nam273. Cung trong loạt bài này, Lê Duẩn duợc mô tả nhu là một nguời dề xuất hầu hết các chủ truong lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam. “Bác là nguời dầu tiên tán dồng những ý kiến dề xuất của anh Ba truớc Bộ Chính trị, ngay sau khi anh ra Bắc”274. Theo Thép Mới thì: “Sự vi dại của Bác Hồ là lắng nghe” anh Ba và sau khi nghe, Bác bảo với anh: “Chú nói dúng”275.

Tháng 3-1985, Tuớng Giáp, lúc này dã không còn chức bộ truởng Bộ Quốc phòng, vào Huế dự lễ mừng “10 nam giải phóng”. Cùng di với ông có Tuớng Lê Trọng Tấn, tổng tham muu truởng

và Tuớng Lê Phi Long. Họ duợc dón tiếp khá nồng hậu và duợc bố trí nghỉ tại khu nhà nghỉ xua kia của Ngô Đình Cẩn.

Tuớng Lê Phi Long kể: “Anh Van gọi tôi tới cùng di dạo choi quanh vuờn và nói: ‘Lâu nay các cậu có nghe nguời ta nói gì không?’. Tôi trả lời. Anh bảo: ‘Sao không thấy nói lại! Trong tình hình phức tạp hiện nay, con nguời ta có thể bị phân hóa thành ba thái dộ: một là thẳng thắn dấu tranh bảo vệ sự thật, chân lý; hai là trong khi chua có diều kiện nói ra sự thật thì ngồi yên kiên trì chờ dợi; ba là co hội, xuyên tạc, sẵn sàng dổi trắng thay den, bóp méo sự thật. Các cậu có dủ dung khí thì theo cách một, chua có diều kiện thì chọn cách hai, còn cách ba, thì phải tuyệt dối

tránh”.

Hôm sau, doàn của Tuớng Giáp vào Đà Nẵng bằng duờng bộ. Trên dèo Hải Vân, khác với không khí nồng hậu mà Huế dành cho Đại tuớng, Đà Nẵng chỉ cử một tỉnh ủy viên trẻ mang, vô danh ra dón, không có dại diện Quân khu, Tỉnh dội. Tuớng Lê Phi Long nhớ lại: “Chúng tôi rất bực mình, nhung anh Van vẫn bình thản”.

Đêm ấy, doàn nghỉ ở nhà khách Mỹ Khê, sáng hôm sau, theo chuong trình, sẽ dến dặt vòng hoa tại dài liệt sỹ truớc khi dự lễ mừng chiến thắng. Nhung dợi mãi, không thấy ai phát thu mời và phù hiệu cho doàn của “anh Van”. Các sỹ quan di cùng hỏi thì duợc trả lời: “Ai không có giấy thì coi nhu không duợc mời”.

Lễ mừng Chiến thắng Đà Nẵng nam ấy duợc tổ chức trọng thể vì có Tổng Bí thu Lê Duẩn tới dự. Tuớng Lê Phi Long kể: “Chúng tôi rất ban khoan, liền xin ý kiến của anh Tấn và anh Van”. Trong doàn có ý kiến dề nghị thôi không dự lễ nữa. Tuớng Giáp suy nghi rất lâu rồi nhẹ nhàng nói: “Chúng ta vào dây không phải vì lễ lạt mà còn dể viếng những dồng dội, dồng chí dã ngã xuống trên mảnh dất này. Đã tổ chức viếng thì phải tổ chức trang trọng, chu dáo theo dúng nghi thức quân dội”.

Lập tức, Tuớng Lê Trọng Tấn ra lệnh cho Bộ Tu lệnh Quân khu V tổ chức một lễ viếng riêng có dủ tiêu binh, quân nhạc và dích thân một vị trong Bộ Tu lệnh phải tháp tùng. Sáng hôm sau, xung quanh dài liệt sỹ, dân chúng kéo dến rất dông. Những nguời dân ấy không phải dến vì duợc triệu tập mà dến dể nhìn Tuớng Giáp.

Trong lễ “kỷ niệm 10 nam giải phóng miền Nam” tổ chức tại Hà Nội vào ngày 30-4-1985. Võ

Nguyễn Giáp vẫn duợc ngồi trên “Đoàn Chủ tịch”, nhung trong danh sách mà báo Nhân Dân ngày 1-5-1985 dang, ông duợc xếp dứng sau chín nguời, trong dó có nhiều nguời từng là cấp

duới của ông trong chiến tranh nhu Van Tiến Dung, Võ Chí Công, Chu Huy Mân, Đỗ Muời, Nguyễn Co Thạch,… Đây là thứ bậc dựa trên chức vụ trong Đảng mà ông nắm giữ trong thời diểm 1985. Tên ông chỉ duợc dặt bên cạnh hai chức danh: ủy viên Trung uong Đảng, phó chủ tịch Hội dồng Bộ truởng.

Từ sau khi Tuớng Giáp rời khỏi Bộ Quốc phòng, báo chí nhà nuớc không bao giờ gọi ông là “dại tuớng”. Nhung, cung trong suốt thời gian ấy, Võ Nguyên Giáp gần nhu rất ít khi rời khỏi bộ quân phục của mình. Trong những chuyến công du hiếm hoi mà ông duợc cử, Võ Nguyên Giáp luôn mặc bộ lễ phục cấp tuớng sang trọng màu trắng.

Ông vẫn sống trong biệt thự 30 Hoàng Diệu. Quân dội, ngay cả trong thời kỳ Lê Đức Anh làm bộ truởng Bộ Quốc phòng, vẫn giữ lực luợng vệ binh gác nhà ông. Nhung, cao hon cả mọi nghi lễ là sự nguỡng mộ mà các tuớng linh, quân dội, dân chúng dành cho ông. Tên tuổi Tuớng Giáp càng bị biên tập khỏi các trang báo Nhân Dân thì nhân dân lại càng nhắc dến ông trong dời thuờng của họ. Là một ông thầy dạy sử, có lẽ Tuớng Giáp biết duợc vị trí trong lịch sử của mình. Ông dã di qua những tháng ngày bị xếp xuống hàng cuối cùng trên những khán dài, lặng lẽ và sừng sững.

Sau Đại hội Đảng lần thứ VII, nam 1991, Tuớng Giáp chính thức rời khỏi chính truờng. Cho dù vụ “Nam Châu-Sáu Sứ”, theo ông Võ Viết Thanh, chỉ là một vụ án duợc dựng lên, Bộ Chính trị dã chua một lần minh oan nhu ông dề nghị. Mãi tới nam 1994, trong lễ “kỷ niệm 40 nam Chiến thắng Điện Biên Phủ”, tên tuổi của ông mới chính thức duợc nhắc lại trong một “diễn van nhà nuớc”. Đó là bài diễn van của Thủ tuớng Võ Van Kiệt dọc vào tối 6-5-1994: “Xin chào mừng Đại tuớng Võ Nguyên Giáp, thời dó là tổng tu lệnh Chiến dịch Điện Biên Phủ, nguời dã chấp hành triệt dể và sáng tạo quyết dịnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, cùng Bộ Chỉ huy Chiến dịch, chỉ dạo trận quyết chiến chiến luợc Điện Biên Phủ giành toàn thắng”. Ông Võ Van Kiệt nhớ lại: “Truớc dó, khi Bộ truởng Quốc phòng Đoàn Khuê lên Điện Biên Phủ kỷ niệm 40 nam, diễn van của Đoàn Khuê không hề nhắc một câu tới anh Giáp”.

Cho dù trong bài diễn van duợc viết công thức và rào dón của ông Kiệt, phần nói về Tuớng Giáp vỏn vẹn chỉ có nam muoi chín từ, nhung chỉ cần cái tên Tuớng Giáp duợc xuớng lên cung dủ làm cho Cung Van hóa Việt-Xô òa vỡ. Thật khó biết diều gì dang diễn ra trong lòng Tuớng Giáp, từ lâu ông dã có một guong mặt rất ít biểu lộ. Nhung những giọt nuớc mắt của những

nguời có mặt hôm ấy thì không thể kềm chế, chúng lan rất nhanh trên má họ; trong khi, tiếng vỗ

tay kéo dài.

Phần IV: Tam nhân

Chuong XVI: Thị truờng

Ngày 28-4-1989, Bộ truởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Co Thạch cùng với Bộ truởng Thuong mại “hai nuớc anh em”, Lào và Campuchia, dến Bangkok dự Hội thảo “Đông Duong: từ chiến truờng chuyển sang thị truờng”276. Ở trong nuớc, từ các nhà lãnh dạo vi mô, các truờng dại học, cho dến từng co sở kinh doanh, bắt dầu tìm kiếm tài liệu dể chuẩn bị sự hiểu biết cho thời kỳ chuyển dổi. Cho dù những trải nghiệm ban dầu bao gồm cả những dổ vỡ, nhung những gì mà kinh tế thị truờng kiến tạo dã làm thay dổi dến từng ngóc ngách dời sống và toàn bộ bộ mặt xã hội Việt Nam.

Tái lập hòa bình

Nguời Thái, Malaysia và Singapore cung dã từng có lợi ích khi cung cấp hậu cần cho Chính phủ Liên hiệp 3 phái Campuchia chống Việt Nam. Tuy nhiên, một Đông Duong dối dầu không phải là lựa chọn của các quốc gia lân cận. Không chỉ có nguy co chiến sự, từ cuối thập niên 1970, nguời tị nạn Việt Nam tràn ngập Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines…

Ông Võ Van Kiệt kể: “Nam 1987, khi tôi tham chính thức Malaysia277, Thủ tuớng Mahathir dã tiếp với thái dộ rất giận dữ. Ba lần ông lớn tiếng khẩn thiết dề nghị Việt Nam phải giải quyết dứt diểm vấn dề nguời tị nạn. Tôi dợi ông dứt lời rồi nói rằng chúng tôi cung dau lắm. Chúng tôi chiến dấu với niềm tin là dể giành dộc lập. Khi chiến tranh kết thúc, có dộc lập, mà nguời Việt không thể ngồi lại với nhau, nguời Việt vẫn bỏ nuớc ra di, thì nỗi dau ấy còn ghê gớm hon sự chia rẽ của chiến tranh”.

Khi ấy, dang có 282.000 thuyền nhân Việt Nam ở Malaysia noi tổ chức cộng sản chịu ảnh huởng của Bắc Kinh dang làm loạn. Đại sứ Việt Nam tại Indonesia và Malaysia, ông Trần Huy Chuong, thừa nhận: “Chính quyền Malaysia lo sợ cộng sản Việt Nam trà trộn trong những nguời Việt tị nạn móc nối với lực luợng cộng sản theo Mao dang hoạt dộng trên dất nuớc họ”.

Tháng 2-1990, khi dến Davos, Thụy Sỹ, dự Diễn dàn Kinh tế Thế giới, ông Kiệt ngạc nhiên thấy sự phồn vinh của một quốc gia phuong Tây. Ông thừa nhận, truớc dây khi dến Liên Xô và các nuớc Đông Âu, thấy sự phát triển của họ, ông dã tuởng nhu dó là uớc mo của mình. Nhung

Thụy Sỹso với Đông Âu hay Liên Xô mà ông biết chỉ là một trời, một vực. Ông hỏi nguời phiên dịch, bà Tôn Nữ Thị Ninh: “Điều gì giúp họ giàu có thế?”. Bà Ninh nói: “Thua anh, dấy là ân huệ của hòa bình”.

Nam 1991, các nhà lãnh dạo mới của Việt Nam nhu Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Võ Van Kiệt dều thống nhất với nhau, cho dù quá khứ thế nào thì Việt Nam vẫn phải làm bạn với ASEAN. Ngày

28-10-1991, trong cuộc hội dàm tại Bangkok với Thủ tuớng Thái Lan Anand Panyarachun, Chủ tịch Hội dồng Bộ truởng Võ Van Kiệt hoàn toàn chia sẻ với nguời Thái ý tuởng “biến Đông Duong thành một thị truờng”278. Khi Đông Duong vẫn còn là một chiến truờng thì không chỉ có Việt Nam mà các quốc gia lân bang cung không thể nào huởng “ân huệ hòa bình” trọn vẹn.

Trong khi Hà Nội có nhiều nỗ lực dể bình thuờng hóa quan hệ với các quốc gia, nhiều tổ chức, cá nhân cung tích cực nhắc nhở Hà Nội và cộng dồng quốc tế quan tâm tới số phận của những quan chức Việt Nam Cộng hòa dang bị cải tạo trong các trại. Nam 1977, ở Mỹ, bà Khúc Minh Tho lập “Hội Gia dình tù chính trị Việt Nam”. Chồng bà Tho, Đại tá Nguyễn Van Bê, lúc ấy dang ở trong trại cải tạo. Hội của bà Tho dã vận dộng giới lập pháp, hành pháp Hoa Kỳ, vận dộng Tổng Thu ký Liên Hiệp Quốc và cả Đức Giáo hoàng, gây sức ép dể Việt Nam thả chồng con của họ. Số phận những nguời dã từng làm việc cho dồng minh Mỹ ở Sài Gòn bắt dầu duợc mặc cả trên bàn dàm phán279.

Tại một cuộc họp của Ủy ban Trung uong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tuớng Nguyễn Hữu Hạnh dã dua vấn dề giam giữ quá lâu những nguời một thời là dồng dội của ông ra chất vấn. Theo Tuớng Hạnh thì Chủ tịch Mặt trận lúc ấy là ông Nguyễn Hữu Thọ, sau dó dã gặp riêng, dề nghị ông chuyển ý kiến “phát biểu miệng” ấy thành một tham luận dọc trong Đại hội lần thứ III của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, diễn ra tại Hà Nội nam 1988.

Cho dù duợc Cách mạng “móc nối” rất sớm, Tuớng Hạnh dã khôn ngoan né tránh việc “ra bung làm ngọn cờ” khi mà cuộc chiến chua ngã ngu. Vào ngày 27-4-1975, Sài Gòn dã bị bao vây bởi “nam cánh quân”, ông mới vội vã lên Sài Gòn làm diều mà ông tự mô tả là tác dộng dể Tổng thống Duong Van Minh sớm di dến quyết dịnh dầu hàng. Nam 1975, trong khi, biết bao sỹ quan, binh lính Sài Gòn phải di cải tạo, phải mất vợ, mất nhà, ông Hạnh duợc Chính quyền mới cấp cho một can biệt thự ở quận Nhất, thay thế can nhà của ông ở Thủ Đức dã bị “Cách mạng 30-4 tiếp quản”. Đuợc lời của ông Nguyễn Hữu Thọ, Tuớng Nguyễn Hữu Hạnh lại “chớp thời co”, ghi chút ít công lao với những dồng dội cu.

Sau khi cho rằng “nhiệm vụ Đại doàn kết toàn dân dể xây dựng dất nuớc là một vấn dề bức thiết”, Tuớng Nguyễn Hữu Hạnh nhắc lại sự kiện ngày 2-5-1975, tại dinh Độc Lập, Thuợng tuớng Trần Van Trà nói với ông Duong Van Minh: “ Giữa chúng ta không có kẻ thắng nguời thua chỉ có dân tộc Việt Nam thắng Mỹ”. Theo Tuớng Hạnh, các gia dình miền Nam nghe “câu nói hết sức thâm tình” ấy dã “dộng viên chồng con di trình diện học tập”. Tuớng Nguyễn Hữu Hạnh nói tiếp: “Trong những ngày sau dó, Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát với danh nghia Thủ tuớng Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam dã phổ biến một van kiện trong dó qui dịnh thời gian di học tập, lâu nhất là ba nam. Các trại cải tạo dã cho học tập van kiện này và anh em vui mừng dón nhận nó”280. Nhung, dến nam 1989, nhiều tuớng linh, sỹ quan, viên chức Việt Nam Cộng hòa vẫn còn bị Chính quyền giam giữ.

Tháng 1-1989, sau nhiều nam yêu cầu, lần dầu tiên Hội Chữ thập dỏ Quốc tế duợc gửi quà từ Mỹ tới các trại giam ở Việt Nam. Tháng 4-1989, một phái doàn ngoại giao Mỹ dã dến Hà Nội thảo luận về vấn dề ODP, vấn dề “Con lai” và “Tù cải tạo”. Ngày 30-7-1989, tại Hà Nội, Phụ tá Thứ truởng Ngoại giao Mỹ, Robert Funseth, và Thứ truởng Ngoại giao Việt Nam Vu Khoan ký thỏa hiệp về việc “Định cu tại Mỹ những nguời tù cải tạo”.

Cung trong thời gian ấy, ở Sài Gòn, dọc theo duờng Lê Duẩn, dặc biệt là phần công viên kéo dài từ Nhà thờ Đức Bà tới Dinh Độc Lập, tràn ngập những nguời vừa từ các trại cải tạo trở về mà chua biết làm gì. Họ dứng dó dể hóng hớt chút ít thông tin rò rỉ ra từ Sở Ngoại vụ về các chuong trình di dịnh cu ở Mỹ.

Ngày 13-1-1990, 55 nguời Việt dầu tiên duợc xuất cảnh theo chuong trình HO. Tới cuối nam 1992, khoảng 380.000 nguời Việt Nam dã dến Mỹ bằng duờng hàng không theo diện HO, ODP,

RD và theo diện con lai Mỹ. Truớc nam 1975, cộng dồng Việt Nam ở nuớc ngoài có khoảng 200.000 nguời, trong dó, khoảng 40.000 nguời do nguời Pháp dua di kể từ Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Ở thời diểm 30-4-1975, gần 140.000 nguời duợc dua tới Mỹ; 52.000 nguời khác duợc dua sang Pháp; 7.000 nguời tới Canada; 2.700 nguời tới Úc… Cộng dồng nguời Việt, những nam sau dó dã tang lên con số triệu, chủ yếu rời Việt Nam bằng vuợt biên.

Trong khi, nhiều nguời trong nuớc vẫn mong mỏi thoát ra, nhất là gia dình của những nguời vừa duợc tha từ các trại cải tạo, thì sự trở về tham quê của hàng nghìn Việt kiều cung có thể coi nhu những chỉ dấu hòa bình.

Tết Kỷ Tỵ 1989, có hon 5.000 Việt kiều về Việt Nam. Việt kiều về quê làm cho luợng khách quốc tế tang dột biến dến mức nhiều nguời phải dợi hết tháng 3-1989 mới có vé máy bay di từ Tân Son Nhất. Sáu tháng dầu nam 1989, con số Việt kiều về nuớc lên tới 7.500 nguời, bằng cả nam 1988. Một nửa số dó về Việt Nam từ Mỹ.

Trong Bộ Luật hình sự duợc Quốc hội Việt Nam thông qua nam 1985, hành vi vuợt biên và tổ chức vuợt biên bị xếp vào hàng “các tội xâm phạm an ninh quốc gia”, thậm chí có thể bị coi là “chống lại chính quyền nhân dân”. Nam 1989, cung những nguời Việt ấy từ Mỹ, từ Úc trở về duợc coi là “Việt kiều yêu nuớc”.

Một trong số dó là ông Nguyễn Thanh Hoàng, nguời vuợt biên nam 1980 khi dang làm cho Bộ Xây dựng. Nam 1989, vài nguời bạn của ông lúc bấy giờ dã là quan chức trong Bộ sang Úc công tác khuyên ông về. Ông Hoàng nói: “Nam 1990, tôi quyết dịnh về tham nhà. Khi dó, tôi vẫn còn nhiều mặc cảm, không ngờ ở sân bay, những nguời bạn của tôi, giờ dó dang giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền dua xe ra tận sân bay dón”.

Ở nhiều dịa phuong, trong khi ngoài cửa sông, công an vẫn vây bắt vuợt biên, trong trụ sở hoặc trong nhà hàng, chính quyền làm tiệc dãi “Việt kiều yêu nuớc”. Không cần rút ra những tờ dôla xanh, hình ảnh những Việt kiều an mặc bảnh bao, hồng hào, trở nên nổi bật giữa những nguời Việt dồng huong ốm yếu, xanh xao và ít nhiều mặc cảm. Truớc “nhân tình, thế thái” ấy, dân gian có tho rằng: “ Việt Minh, Việt Cộng, Việt kiều, trong ba Việt ấy, Đảng yêu Việt nào/ Việt Minh tuổi dã hoi cao/ Việt Cộng ốm yếu xanh xao, gầy mòn/ Việt kiều tuổi hãy còn son/ Đảng yêu dảng quý nhu con trong nhà…”281.

Không chỉ cụng ly với những nguời vuợt biên, con gái Thuợng tuớng Trần Van Trà, Tu lệnh Quân giải phóng miền Nam, chị Nguyễn Xuân Hồng, dã kết hôn với một nguời vuợt biên, anh Nguyễn Thanh Hoàng vào cuối nam 1991.

Nguyễn Thanh Hoàng là nguời vuợt biên dến Úc nam 1980. Không nhu hàng ngàn Việt kiều khác chỉ trở lại tham quê rồi di, Nguyễn Thanh Hoàng dã mang về các nhà dầu tu nguời Úc. Luật Đầu tu nuớc ngoài duợc Quốc hội thông qua từ tháng 12-1987, nhung gần nhu rất ít duợc chú ý trong những nam cuối thập niên 1980. Phải dến khi những chính sách dổi mới duợc trình bày rõ ràng hon và phải dến khi những nguời vuợt biên dám trở về, dầu tu nuớc ngoài mới bắt dầu khởi dộng.

Một cải cách về thủ tục visa do Bộ Nội vụ chủ truong lúc dó cung dã thúc dẩy nhanh thêm tiến trình mở cửa của Việt Nam. Cho tới nam 1988, một nguời Việt Nam muốn di xuất cảnh, phải trải qua một quy trình xin phép: nộp hồ so, don xin ở xã, phuờng; dợi xã, phuờng dua lên quận, huyện; chờ quận, huyện chuyển lên công an tỉnh, thành; tỉnh, thành chuyển lên Tổng cục An ninh; Tổng cục An ninh phải trình lãnh dạo Bộ. Qua rất nhiều thủ tục và không thể biết rõ mất bao nhiêu thời gian, nguời ra di mòn mỏi chờ thủ tục.

Công an và những nguời làm các dịch vụ liên quan nhu du lịch, hàng không giàu lên nhờ sự nhờ vả và dặc biệt, nhờ biết truớc các dối tuợng duợc phép xuất cảnh dể từ dó mua lại nhà của họ với giá bán dổ, bán tháo. Trong khi dó, nguời nuớc ngoài và Việt kiều từ các nuớc không có co quan ngoại giao Việt Nam muốn về nuớc phải nằm chờ ở Thái Lan xin visa. Các quan chức cấp visa ở Bangkok trở nên hết sức quan cách trong giai doạn này và dặc biệt, ngành du lịch Thái giàu lên nhờ một luợng lớn Việt kiều phải nằm chờ quá lâu ở Bangkok.

Ông Võ Viết Thanh nói: “Tôi nghi, tại sao Bộ Nội vụ lại mất công di thẩm tra lý lịch, xét duyệt những nguời muốn di xuất cảnh. Nếu dó là những nguời chống dối thì việc họ ở lại Việt Nam lại khiến cho mình khó xử hon là dể họ di ra nuớc ngoài”. Ông Thanh gặp Bộ truởng Mai Chí Thọ dề nghị: Ai muốn xuất cảnh thì cho họ làm hộ chiếu phổ thông và tự liên hệ xin visa. Nếu họ dến những quốc gia chua có quan hệ ngoại giao thì Bộ Nội vụ và Ngoại giao sẽ tổ chức các trung tâm dịch vụ xuất nhập cảnh dể xin visa cho họ. Với những nguời dến Việt Nam từ các nuớc chua có co quan lãnh sự Việt Nam cung sẽ duợc xin visa tại các sân bay quốc tế. Bộ truởng Mai Chí Thọ gật dầu.

Ông Võ Van Kiệt dồng ý ngay. Ông Kiệt khi ấy dang tạm Quyền Chủ tịch Hội dồng Bộ truởng dề nghị ông Thanh trao dổi thêm với Phó Chủ tịch kiêm Bộ truởng Ngoại giao Nguyễn Co Thạch. Ông Thạch nghe ông Thanh trình bày thì thở phào: “Tôi làm ngoại giao dã lâu mà chua bao giờ nhận duợc một dề nghị mở ra nhu thế này từ phía An ninh”.

Từ giữa nam 1988, những nguời nằm trong diện duợc bảo lãnh hoặc duợc ra di theo các chuong trình HO, ODP… bắt dầu duợc làm passport. Những nguời dến Việt Nam không còn phải chờ dợi ở Bangkok vì lý do xin visa nữa. Ngành Công an cung thu rất lớn từ dịch vụ này: 20% dể lại cho Bộ, 80% nguồn thu nộp vào ngân sách.

Nhung, ông Võ Viết Thanh nói: “Cục II báo cáo Bộ Chính trị: cấp hộ chiếu phổ thông và cấp visa tại phi truờng là một mắt xích nằm trong kế hoạch diễn biến hòa bình của Mỹ”. Chánh Van

phòng Trung uong Hồng Hà gọi ông Võ Viết Thanh lên nói: “Đồng chí Tổng Bí thu duợc nghe báo cáo, chủ truong của Bộ Công an mà anh chỉ dạo cho nhập cảnh tại phi truờng và ồ ạt cấp hộ chiếu phổ thông, trong dó có những dối tuợng chính trị không tốt. Anh về báo cáo lại với lãnh dạo Bộ, cân nhắc ý kiến của dồng chí Tổng Bí thu”. Ông Võ Viết Thanh trả lời: “Đây chỉ là dối sách chứ không phải chính sách nên chúng tôi dã không muốn làm phiền Ban Bí thu. Vì Bộ dã ra van bản thi hành nên nếu Tổng Bí thu chỉ thị phải dình chỉ thì xin Van phòng ra van bản, chúng tôi sẽ chấp hành”. Ông Hồng Hà không nói gì. Ông Thanh nói: “Tôi về không báo lại cho lãnh dạo Bộ vì báo cáo chắc chắn lại có nhiều ý kiến rắc rối. Chờ, cung không thấy Van phòng Trung uong ra van bản”.

Lạm phát và Nuớc hoa Thanh Huong

Ở Sài Gòn, kể từ nam 1987, hàng loạt co sở sản xuất kinh doanh bắt dầu lặng lẽ bung ra, những dịch vụ từng bị coi là “tàn du của Mỹ-Ngụy” nhu vu truờng Maxim, Qeenbee, Liberty… cung duợc làm an trở lại. Liền theo dó, các quán “bia ôm”, “xông hoi, xoa bóp” mà báo chí nói là “mãi dâm trá hình”, lần luợt mọc lên. Sự ham hở trở lại làm an của nguời dân dã làm thaydổi bộ mặt dất nuớc, dồng thời cung làm xuất hiện những vấn dề mà báo chí gọi là “mặt trái của kinh tế thị truờng”. Mặt trái cụ thể nhất mà nguời dân phải dối diện trong giai doạn này là những vụ dổ bể tín dụng và huê hụi.

Nền kinh tế lúc ấy vẫn tiếp tục roi xuống dáy, “giá-luong-tiền” vẫn là “nỗi hoảng sợ hàng ngày” của nguời dân trong khi Chính phủ chỉ lấy phát hành tiền là giải pháp cứu nền kinh tế. Bất dồng ý kiến vẫn diễn ra gay gắt giữa các chuyên gia chống lạm phát, giữa những nguời ủng hộ khuynh huớng thị truờng và những nguời sợ hãi truớc lạm phát, muốn quay lại thời quan liêu bao cấp.

Nam ấy nạn dói xảy ra. Báo cáo của Bộ truởng Thuong mại Hoàng Minh Thắng cho thấy, tuy sản luợng luong thực có giảm, nhung ở nhiều tỉnh miền Nam, lúa gạo vẫn du thừa, vấn dề là từ Nam ra Bắc khi ấy dang có hon tám muoi trạm kiểm soát liên tỉnh duợc ba muoi tám tỉnh, thành phố lập nên trên các tuyến giáp ranh. Không chỉ ngan cản luong thực luu thông, các trạm kiểm soát duợc thiết lập ở khắp noi, các rào chắn duợc lập nên dể chặn từng con gà dua từ làng này

sang làng khác.

Tiến sỹ Nguyễn Van Nam, trợ lý của ông Đỗ Muời, nhớ lại: “Nguời dân không có quyền dua một cái phích nuớc từ Hà Nội xuống Hải Duong”. Theo Bộ truởng Lê Van Triết, câu chuyện “ông Đỗ Muời bị trạm Tân Huong, Tiền Giang thu muời ký gạo mang theo trên xe” dã duợc dua

ra nói trong các cuộc họp của Hội dồng Bộ truởng. Trong một phiên họp có ông Đỗ Muời dự, theo ông Triết, ông Võ Van Kiệt kể câu chuyện: Một bà mẹ miền Tây dua thịt heo lên cho con dang sống ở Sài Gòn. Để tránh ngan sông cấm chợ, thay vì dua thịt tuoi, bà dã phải kho. Vậy mà nồi thịt kho của bà mẹ vẫn bị chặn lại. Tức quá, bà dập nồi ngay giữa duờng rồi la lên: “Tụi bây an di”. Những câu chuyện có thật này dã thuyết phục Phạm Hùng, Đỗ Muời và Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh. Ngày 11-3-1987, Phó Chủ tịch Hội dồng Bộ truởng Võ Van Kiệt ký Quyết dịnh “Bãi bỏ các trạm kiểm soát trên tất cả các tuyến giao thông trong nuớc”282.

Hội nghị Trung uong 2, khóa VI, ủng hộ xóa tình trạng “ngan sông, cấm chợ”, tuy nhiên, theo

Giáo su Đào Xuân Sâm, lại “tiêu biểu cho một buớc lùi về quan diểm so với Đại hội Đảng lần thứ VI”. Mặc dù, ngày 1-4-1987, khi khai mạc Hội nghị Trung uong 2, Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh dã chỉ trích những nguời bảo vệ quan liêu bao cấp: “Họ chỉ biết huênh hoang nói những diều cao xa, lý thuyết trừu tuợng về cách mạng, về lý tuởng cộng sản chủ nghia, nhung không thể bắt tay giải quyết duợc một công việc thực tế cụ thể nào cho ra hồn”. Nhung Nghị quyết Hội nghị Trung uong 2, bế mạc vào ngày 9-4-1987, vẫn “lấy kế hoạch hóa làm trung tâm”. Khi ấy, vừa cháy kho hàng dự trữ ở Hải Phòng, nhu yếu phẩm khan hiếm, quan diểm kiểm soát thật chặt lại càng xuất hiện. Cho dù Hội nghị Trung uong 2 dề ra “mục tiêu bốn giảm: giảm bội chi ngân sách, giảm tốc dộ tang giá, giảm lạm phát, giảm khó khan dời sống”, trên thực tế dã trở thành “bốn tang”.

Ngày 17-5-1987, Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh tham Liên Xô. Sau chuyến di này, ngày 18-6-

1987, Ban Bí thu có Chỉ thị 08, dặt vấn dề: “Hợp tác quốc tế về kinh tế, nhất là với Liên Xô và các nuớc xã hội chủ nghia khác, dể có thêm diều kiện góp phần giải quyết những vấn dề kinh tế cấp bách”. Sau dó, doàn chuyên gia cao cấp của Liên Xô về chống lạm phát, theo lời mời của Bộ Chính trị Việt Nam, dến Hà Nội; truởng doàn là Thứ truởng Bộ Tài chính Liên Xô Orlov.

Cuối nam 1988, Bộ Chính trị tổ chức một cuộc họp dể nghe nhóm nghiên cứu trong nuớc và nhóm của chuyên gia Liên Xô trình bày phuong án của mình. Theo Giáo su Đào Xuân Sâm, các chuyên gia Liên Xô, dứng dầu là Orlov, dã yêu cầu phải “xiết lại kỷ cuong giá, phát hành dồng tiền có bản vị và thu mua phân phối thống nhất” – tức là tái lập co chế bao cấp. Orlov cảnh báo rằng: “Thả nổi giá theo co chế thị truờng là rất nguy hiểm cho chủ nghia xã hội”.

Nhung, phuong án của các chuyên gia Liên Xô yêu cầu phải có 500 triệu Rub hoặc USD dể thu mua hàng hóa, trong khi toàn bộ ngân quỹ của Việt Nam vào thời diểm 1987-1988 chỉ còn

khoảng 20 triệu dôla. Ông Giá kể: “Khi mời Orlov, ta cung hy vọng có thể kéo theo duợc nguồn lực của Liên Xô, kể cả việc nhờ họ in tiền giùm. Nhung, khi chúng tôi sang dấy dể nhờ in một luợng tiền giấy mệnh giá 50 và 100 nghìn dồng nhằm phòng khi chống lạm phát thất bại thì có sẵn tiền mệnh giá lớn luu hành, họ lại bảo chúng tao in tiền cho mình còn không kịp”. Theo Giáo su Đào Xuân Sâm: “May mắn cho Việt Nam là chính Liên Xô dã từ chối viện trợ khoản tiền mà họ nói là cần thiết dể chống lạm phát, nếu không rất có thể Việt Nam dã quay lại với thời kỳ quan liêu bao cấp”.

“Chân tuờng” chứ không phải “lýluận về chủ nghia xã hội” quyết dịnh sự lựa chọn lối thoát cho nền kinh tế. Ý kiến của các chuyên gia Việt Nam bắt dầu duợc lắng nghe. Cùng với lực luợng hùng hậu các chuyên gia từ Viện Quản lý Kinh tế Trung uong, Ủy ban Vật giá, Ngân hàng Nhà nuớc và các bộ dã duợc tập hợp từ truớc dó, Hội dồng Bộ truởng còn nghe các phuong án duợc nhóm các chuyên gia Việt kiều, dứng dầu là Tiến sỹ Vu Quang Việt, do Bộ truởng Ngoại giao Nguyễn Co Thạch mời. “Nhóm thứ Sáu”, do ông Võ Van Kiệt mời, gồm các chuyên gia và quan chức từng làm việc tại Sài Gòn truớc ngày 30-4-1975 nhu Huỳnh Bửu Son, Lâm Võ Hoàng, Trần Bá Tuớc, Trần Trọng Thức, Phan Tuờng Vân, Phan Chánh Duỡng… Quan diểm chống lạm phát bằng “thị truờng hóa, xóa dịnh luợng” duợc nhóm của Tiến sỹ Vu Quang Việt dua ra và duợc ông Nguyễn Co Thạch, Võ Van Kiệt bảo vệ một cách kiên dịnh. Tuy nhiên, nguời dóng vai trò quyết dịnh trong việc lựa chọn giải pháp chống lạm phát vào dầu nam 1989 là ông Đỗ Muời. Theo ông Trần Xuân Giá: “Khi còn làm thuờng trực Ban Bí thu, ông Đỗ Muời dã lắng nghe các

chuyên gia. Tháng 6-

1988, ngay sau khi duợc bầu làm chủ tịch Hội dồng Bộ truởng, ông triệu tập tôi, Phan Diễn, lúc dó là phó Van phòng Hội dồng Bộ truởng, Hồ Tế, thứ truởng Bộ Tài chính trực tiếp làm việc cạnh ông nhu một nhóm dặc nhiệm. Chống lạm phát là một quá trình chuẩn bị lâu dài, chúng tôi duợc cử di nhiều nuớc, gặp nhiều tổ chức quốc tế dể tham khảo ý kiến. Thực ra, lúc dầu cung muốn dựa vào Liên Xô. Nhung, chuyên gia Orlov lúc ấy cung nói: Liên Xô chỉ có kinh nghiệp chống lạm phát từ thập niên 1920, khi Lenin còn sống”.

Sau khi nhận ra không còn có thể trông cậy vào Liên Xô, Việt Nam bắt dầu tìm kiếm sự giúp dỡ từ các nuớc phuong Tây và các tổ chức nhu Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Nhung, theo ông Trần Xuân Giá: “Cung không thể học phuong Tây vì giải pháp mà họ dua ra không có cách nào thực hiện duợc. Nguời Đức dề nghị phải phá giá dồng Việt Nam từ 2.800 dồng/USD

xuống còn 20.000 dồng/USD. Giải pháp của Ngân hàng Thế giới cung dề nghị phá giá tới 16.000 dồng/USD. Để thực hiện theo các phuong án này cần có nam tỷ USD trong khi ngân sách quốc gia gần nhu trống rỗng”. Tình thế bắt buộc phải tự dựa vào chính bản thân mình.

Một trong những chuyên gia chống lạm phát giai doạn này, Tiến sỹ Nguyễn Van Nam, kể: “Ông Đỗ Muời là con nguời hành dộng, khi dó ông chua chú ý lắm tới lý luận. Nhờ thế, ông vuợt qua mặc cảm khi chọn một phuong án bị chỉ trích là không chủ nghia xã hội. Ông Muời cung tập hợp các chuyên gia, ông nói với chúng tôi: ‘Thôi nhé, nghe quan chức mãi rồi mà không có lối ra, các anh mời cho tôi các nhà khoa học’. Một nhóm hai muoi nguời gồm Chế Viết Tấn, Trần Đức Nguyên, Đào Xuân Sâm, Võ Đại Luợc, Hà Nghiệp, Lê Đức Thúy, Nguyễn Van Nam… duợc hình thành. Ông ngồi hai ngày với chúng tôi. Chúng tôi thì nhất quyết thuyết phục ông rằng giải pháp dể chống lạm phát mà các chuyên gia Việt Nam dua ra là dựa trên chính sách kinh tế mới của Lenin. Đã là của Lenin thì ông Đỗ Muời tin tuởng”. Theo ông Trần Xuân Giá, những ngày ấy di dâu ông Đỗ Muời cung nói di nói lại: “Lạm phát, nói nôm na một câu là in tiền nhanh hon tốc dộ tang truởng kinh tế”. Rồi ông giải thích: “Tôi già rồi, vừa làm vừa học, phải nói ra miệng thì mới nhớ duợc”.

Trên co sở nghiên cứu của các chuyên gia Việt Nam, một phuong án dã duợc chấp bút bởi ông Lê Đức Thúy, theo dó: Đình chỉ in tiền, các ngân hàng bắt dầu phải vay lấy mà cho vay, ngân sách phải thu lấy mà chi chứ không còn dựa vào việc phát hành tiền nữa. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm duợc nâng lên 12% theo lý thuyết “cuỡi sóng”, cao hon mức lạm phát

10-11%/ tháng. Nâng giá dôla bằng thị truờng tự do 5.000 dồng/USD. Cho kinh doanh vàng bạc tự do. Tháo khoán cho hàng phi mậu dịch, nguời Việt Nam di nuớc ngoài duợc mang hàng về thoải mái (truớc dó mỗi nguời chỉ duợc mang một tủ lạnh, hai nồi áp suất, hai bàn là…). Phuong án này không dễ tìm duợc sự dồng tình, ngay cả với một nguời trong nhóm dặc nhiệm là ông Trần Xuân Giá.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Van Nam: “Ông Thúy mang phuong án này sang trình bày bên Vật giá, Ngân hàng, liền bị hai co quan này phản dối. Ông Võ Đại Luợc sang trình bày bên Bộ Tài chính, cung bị các chuyên gia bên Bộ Tài chính cuời nhạo. Đua ra Hội nghị Trung uong, ông Nguyễn Van Linh không ủng hộ “nghị quyết hóa”. Hà Nghiệp dự thảo một nghị quyết khác dể Bộ Chính trị thông qua, ông Linh cung bảo không cần. Nhung ông Đỗ Muời vẫn quyết dịnh. Đầu tiên, ông

cho làm thí diểm ở Hải Phòng. Thí diểm thành công, ngày 16-3-1989, mới công bố cho áp dụng trên cả nuớc”.

Ngày 20-3-1989, Trung uong Đảng họp kỳ thứ 6 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trung uong dồng ý với co chế một giá nhung vẫn dè dặt dòi dể Nhà nuớc dịnh giá những vật tu quan trọng. Ba tháng sau, lạm phát giảm thấy rõ: ngày 1-6-

1989, Ngân hàng Nhà nuớc hạ lãi suất có kỳ hạn ba tháng từ 12% xuống còn 9%; ngày 1-7-1989, hạ tiếp còn 7%/ tháng; lạm phát những tháng cuối nam 1989 chỉ còn 2,4%/tháng. Ngày 30-6-

1989, trong phiên họp bế mạc Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa VIII thông qua Nghị quyết: “Nhất trí xóa bỏ quan liêu bao cấp, không vì khó khan mà quay lại co chế cu”.

Cung trong thời gian ấy, tác dụng nhanh chóng của chính sách “Khoán 10” trong nông nghiệp, làm cho nông dân phấn khởi, luong thực thực phẩm bắt dầu có du thừa cung dã giúp cho Hội dồng Bộ truởng và ông Đỗ Muời tự tin hon khi quyết dịnh xóa bao cấp và cho tự do luu thông dể chống lạm phát.

Nguyên tắc lãi suất huy dộng vốn cao hon tỷ lệ mất giá của dồng bạc dã giúp Chính phủ chống lạm phát thành công. Nhung, các nhà doanh nghiệp khó có thể kiếm lời trên 12% dể trả lãi cho ngân hàng hằng tháng. Hàng chục hợp tác xã tín dụng, hàng tram tổ hợp sản xuất, hàng nghìn xí nghiệp dã vỡ nợ vì huy dộng vốn với lãi suất cao theo lý thuyết “cuỡi sóng” của các chuyên gia. Trong dó có hãng nuớc hoa Thanh Huong của “nhà tỷ phú trẻ” Nguyễn Van Muời Hai, Andaco của Huỳnh Là, Xacogiva của Phạm Công Tuớc…

Nguyễn Van Muời Hai, sinh nam 1960, bắt dầu sản xuất xà bông từ nam 1985 bằng nguồn vốn 6 cây vàng góp từ những nguời trong gia dình. Nam 1988, sau khi Hội dồng Bộ truởng có Nghị dịnh 27 và 28 cho phép các nhà sản xuất duợc huy dộng vốn trong dân, Nguyễn Van Muời Hai cho thành lập “tổ hợp sản xuất nuớc hoa Thanh Huong” rồi nhận tiền gửi rộng rãi với lãi suất có khi lên tới 15% /tháng. Mức lãi cao này dã khiến cho “hãng nuớc hoa Thanh Huong”, tên gọi từ khi co sở này bắt dầu quảng cáo huy dộng vốn, bị mất cân dối nghiêm trọng.

Tính dến ngày 20-1-1989, tổng số huy dộng vốn của “hãng nuớc hoa Thanh Huong” là 5,2 tỷ dồng, trong khi số lãi phải trả lên dến 5,4 tỷ. Thay vì thừa nhận tình trạng phá sản, “nhà tỷ phú trẻ” này dã dẩy nhanh nhịp dộ huydộng vốn rồi “lấy tiền của nguời gửi sau trả lãi cho nguời gửi truớc”. Từ 20-1-1989 tới 17-1-1990, Thanh Huong dã huy dộng thêm 90 tỷ. Truớc tháng 1-1990,

mỗi tháng, Thanh Huong chỉ bán duợc một luợng sản phẩm trị giá 30 triệu dồng, trong khi có ngày, lãi suất thực trả cho nguời gửi tiền lên tới hon 800 triệu.

Ngày 10-3-1990, khi khám nhà, “bắt khẩn cấp” Nguyễn Van Muời Hai, công an phát hiện một luợng tiền mặt lên tới 15,5 tỷ dồng, một luợng vàng thoi nặng 149,88 ký; ngoài ra, Muời Hai còn có 18 can nhà và 20 chiếc xe hoi, trong dó có những chiếc Mercedes mà ở Việt Nam chua ai từng có. Khối tài sản trên dây không phải có duợc nhờ bán nuớc hoa Thanh Huong. Số tiền Nguyễn Van Muời Hai “huy dộng” từ 160 nghìn nguời lên dến 154,7 tỷ dồng, tuong duong với 77 nghìn luợng vàng tính theo giá nam 1990, trong khi tổng số nuớc hoa Thanh Huong mà Nguyễn Van Muời Hai bán duợc chỉ là 1,193 tỷ.

Nhung con số không nói hết những bi kịch nạn nhân của Nguyễn Van Muời Hai. Với lãi suất hằng tháng từ 12 dến 14% cộng thêm 1% trả bằng nuớc hoa, trong khi lãi suất cao nhất của ngân hàng, từ ngày 1-7-1989 chỉ còn 7%, Thanh Huong dã khiến cho nhiều nguời mang tiền dến gửi nhu “thiêu thân”. Một số co quan nhà nuớc thì mang công quỹ, nhiều cán bộ huu trí thì mang hết tiền tiết kiệm trong suốt bao nhiêu nam, nhiều nguời còn vay tiền của nguời thân với lãi suất thấp hon gửi cho Nguyễn Van Muời Hai.

Có truờng hợp nhu bà Triệu Thị Hiếu, sau khi bán nhà duợc 92 triệu dồng ở miền Bắc, vào Sài Gòn thay vì mua nhà ngay lại nghe bạn bè khuyên, dem gửi cho Nguyễn Van Muời Hai chỉ ba ngày truớc khi ông ta bị bắt. Bà Hiếu nói với Tòa án ngày 15-10-1990: “Khi công an bắt, tôi còn nhìn thấy ba bao tiền của tôi gửi cho Nguyễn Van Muời Hai, tất cả còn nguyên”.

Cung với phuong thức tuong tự, Giám dốc xí nghiệp Andaco, ông Huỳnh Là, một nguời bị mù bẩm sinh, dã huy dộng tiền gửi của dân 21 tỷ dồng; “dại gia” Lâm Cẩu, giám dốc Xí nghiệp sản xuất phụ tùng xe máy Đại Thành, huy dộng 50 tỷ và Xí nghiệp nồi com diện Covina huy dộng 12 tỷ. Cung trong quý II-1990, Giám dốc Phạm Công Tuớc của Xacogiva – một “nhà tỷ phú” mới mấy tháng truớc dó duợc Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh tới tham – bỏ trốn sau khi huy dộng 44 tỷ dồng với lãi suất 12%/tháng.

Sự dổ bể của các hợp tác xã tín dụng và các tổ chức huy dộng vốn trong dân dã làm cho tình hình xã hội trở nên cang thẳng. Rất nhiều nạn nhân của các tổ chức này là cán bộ huu trí và dặc biệt, phần lớn trong số họ là sỹ quan quân dội. Thời gian ấy có hon 600 nghìn bộ dội vừa mới xuất ngu từ các chiến truờng Campuchia và biên giới phía Bắc. Trong số dó, hàng chục nghìn sỹ

quan, dặc biệt là sỹ quan từ cấp thiếu tá dến dại tá lãnh duợc một khoản tiền khá lớn và nhiều nguời trong số họ thấy lãi cao thì dua di gửi.

87% số vụ dổ bể tín dụng xảy ra từ vi tuyến 17 trở vào; 13% từ các tỉnh miền Bắc. Ở Khánh Hòa nguời dân dã tổ chức nhiều cuộc biểu tình và Chính quyền Sài Gòn dã ra lệnh dình bản số báo Lao Động Chủ Nhật có dang tin nhiều quan chức có sổ khống, tức là không gửi tiền mà vẫn duợc “chia lãi” ở hãng nuớc hoa Thanh Huong vì sợ dân chúng tức giận.

Chủ nhiệm Van phòng Hội dồng Bộ truởng Trần Xuân Giá nhớ lại: “Khi Hội dồng Bộ truởng vào họp ở Sài Gòn, Phó Chủ tịch Trần Đức Luong duợc cử ở lại Hà Nội trực. Hôm dó, có khoảng 50 nguời dến Van phòng Hội dồng Bộ truởng yêu cầu Chính phủ phải có trách nhiệm với sự dổ vỡ tín dụng này. Lần dầu tiên có việc một dám dông lên tới 50 nguời tụ tập truớc cổng Đỏ. Sự việc duợc ông Luong khẩn báo vào Sài Gòn, Chủ tịch Đỗ Muời chỉ dạo: Cứ hẹn với dân dể thứ Sáu Chính phủ ra Hà Nội sẽ có giải pháp. Ông Trần Đức Luong dã có một quyết dịnh vô cùng ngu ngốc là yêu cầu ông Nguyễn Van Báu, Phó chủ nhiệm Van phòng, làm một tờ Thông báo có dóng dấu hẳn hoi ra dán ở cửa nói rằng, hẹn mọi nguời thứ Sáu sẽ giải quyết. Tờ giấy có giá trị nhu một lệnh triệu tập”.

Sáng thứ Sáu, vuờn hoa truớc cổng Đỏ của Hội dồng Bộ truởng dầy kín nguời. Ông Đỗ Muời phải triệu tập một cuộc họp khẩn cấp với các cấp phó và dua ra câu hỏi: Nên giải quyết thế nào? Ông Nguyễn Khánh nói: Anh Muời không nên xuất hiện, không ai biết sự nổi giận của nhân dân tới dâu! Điều này rất dễ nhất trí, nhung khi chọn nguời ra nói chuyện với dân thì ông Đồng Si Nguyên nói: Tôi chỉ phụ trách về giao thông vận tải; ông Trần Đức Luong: Tôi chỉ lo công tác khoa giáo. Thế là ông Đỗ Muời nói: Chú Giá vừa nắm rõ công việc lại vừa có thể thay mặt Chính phủ, chú ra tiếp dân”.

Hàng nghìn nguời biểu tình mà trong dó có rất nhiều quân nhân mang theo cả súng với nỗi tuyệt vọng to lớn sau khi khoản tiền dành dụm cả dời của họ dã “dổ” theo các hợp tác xã tín dụng. Khi ấy, Chính quyền vừa thành lập hai dại dội cảnh sát dã chiến. Van phòng chọn muời nguời trong số họ, mặc thuờng phục di theo bảo vệ ông Trần Xuân Giá. Ông Giá ra ngôi nhà số 3 Mai Xuân Thuởng, truớc cửa Van phòng Hội dồng Bộ truởng, rồi bắc loa nói: “Bà con dông quá, tôi không thể tiếp một lúc duợc, xin mời cứ 50 nguời một, lần luợt vào”.

Trong 50 nguời dầu tiên, có tới 40 vị dại tá. Nhiều vị vừa vô phòng là rút súng dặt cạch lên bàn. Ông Giá cố giữ bình tinh: “Tôi mà roi vào hoàn cảnh các anh thì tôi cung phải làm gì dó dể dòi

quyền lợi. Nhung chúng ta dâu phải kẻ thù mà các anh dua súng ra. Các anh dùng súng, tôi cung dùng súng thì giải quyết duợc gì!”. Nghe tới dó, có nhiều tiếng nói từ phía sau: “Cất súng! Cất súng!”. Ông Giá tiếp: “Chính phủ dứt khoát không bao giờ dể cho dân thiệt. Bà con yên tâm,

Chính phủ sẽ công bố kế hoạch giải quyết cho bà con sau”. “Sau là bao lâu?”. “Tôi chua thể nói chính xác thời gian nhung chắc chắn là rất sớm”.

Từ hon 9 giờ sáng, ông Giá liên tục phải trả lời sự giận dữ của dân chúng. Nhung, rất may là ông không phải tiếp tất cả họ. Nghe hứa “Chính phủ không bao giờ dể dân thiệt”, nhiều tốp 50 dã vỗ tay khi vừa ra khỏi cửa phòng tiếp dân, dám dông chua thực sự hiểu diều gì xảy ra cung vỗ tay. Số này trở thành nguời tuyên truyền cho những nguời ở ngoài, một số nguời không dợi dến luợt mình mà tự dộng ra về, khoảng 3 giờ chiều thì xử lý duợc. Theo ông Trần Xuân Giá, Hội dồng Bộ truởng sau dó dã phải lấy từ ngân sách 137 tỷ chi trả cho nạn nhân của các vụ dổ bể tín dụng trong cả nuớc.

Những buớc di dầu tiên

Tháng 9-1988, cô gái 17 tuổi Bùi Bích Phuong dang quang cuộc thi Hoa hậu dầu tiên của Việt Nam thống nhất do báo Tiền Phong tổ chức. Tháng 1-1989, Trung tâm Quảng cáo Trẻ chọn 7 cô gái xinh dẹp làm nghề nguời mẫu. Tháng 2-1989, báo Tuổi Trẻ dang “ý kiến bạn dọc” dề nghị các cô giáo nên mặc áo dài. Tháng 5-1989, Đỗ Thị Kiều Khanh nhận danh hiệu Hoa hậu Áo dài tại cuộc thi do báo Phụ Nữ Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức. Cung trong tháng 5-1989, Lý Thu

Thảo nhận danh hiệu Hoa hậu Việt Nam của Thành Đoàn.

Một tram nghìn postcard in hình Kiều Khanh bán hết ngay sau cuộc thi. Cuối nam 1989, lịch các hoa hậu bắt dầu trở thành vật phẩm duợc ua chuộng nhất. Đặc biệt, sau sự dang quang của Kiều Khanh, phong trào khôi phục lại những chiếc áo dài từng làm tang thêm nét duyên dáng của những phụ nữ miền Nam truớc nam 1975 bắt dầu lan rộng.

Những cuộc thi hoa hậu tuởng nhu phù phiếm này lúc ấy lại chứa dựng những tín hiệu cho thấy Việt Nam bắt dầu buớc từ tình trạng giặc giã, lam lu, tới những nhu cầu cao hon về tinh thần. Hình ảnh hoa hậu Kiều Khanh có mặt trong các sự kiện của hợp tác xã Tín dụng Hòa Hung và các nguời mẫu, tuy chỉ xuất hiện trên sân khấu, dã dánh dấu buớc chuyển của nền kinh tế từ tự cung tự cấp sang kinh tế thị truờng.

Cho dù phải trả giá không rẻ, diều may mắn là ở thời diểm này, Việt Nam dã không quay lung với kinh tế thị truờng. Đại hội Đảng lần thứ VI, tháng 12-1986, cho phép phát triển kinh tế nhiều

thành phần, nhung mấy nam sau dó vẫn là thời gian tìm duờng. Mãi tới ngày 21-12-1990, ngày

Quốc hội thông qua Luật Công ty, dịa vị pháp lý của kinh tế tu nhân mới bắt dầu chính thức duợc xác lập283.

Truớc dó, doanh nghiệp nhà nuớc dã duợc tự hạch toán kinh doanh; các nhà sản xuất tu nhân dã có thể ủy thác qua các công ty xuất nhập khẩu dể mua về vật tu, nguyên liệu. Từ một thực thể dóng kín, từ cuối thập niên 1980, nền kinh tế Việt Nam bắt dầu chịu tác dộng của nhiều nhân tố bên ngoài. Co chế thị truờng không còn chỉ là những thuật ngữ duợc tranh cãi bởi các nhà lãnh dạo. Tuy dầu tu nuớc ngoài chua dáng kể 284, nhung những nhân tố ban dầu dó dã nhu từng mảng son mới trên những bức tuờng rêu phong. Kinh tế tang truởng, mức sống khá dần285.

Trong suốt thời gian làm Chủ tịch Hội dồng Bộ truởng, ông Đỗ Muời chỉ có thể diều phối một luợng ngoại tệ tổng cộng 123 triệu USD. Ông tự hào dã bàn giao lại cho ông Võ Van Kiệt gần 200 triệu. Theo ông Trần Xuân Giá, Chủ nhiệm Van phòng Hội dồng Bộ truởng: “Số tiền tang thêm này có duợc nhờ phát hành 200 tỷ dồng giao cho ông Chu Tam Thức di mua gạo xuất khẩu. Ông Thức di hai tháng, mang về duợc 59,5 triệu USD, thấp hon con số 61 triệu mà ông Đỗ Muời kỳ vọng. Ngoài ra còn có 50 triệu vay của Nisho Iwai. Nisho Iwai cho vay khoản tiền này, sau khi Hội dồng Bộ truởng quyết dịnh lấy dinh thự 12 Thuyền Quang cho Nisho Iwai thuê với giá 12.000 USD/tháng”. Dinh thự này truớc dó duợc dành cho quan chức cỡ Ban Bí thu và Phó Thủ tuớng Liên Xô ở mỗi lần sang Việt Nam286.

Trong thập niên 1980, Việt Nam chủ yếu buôn bán với các nuớc trong Hội dồng Tuong trợ kinh tế (CMEA), xuất một, nhập về ba khiến cho nợ nần chồng chất. Tính dến cuối thập niên 1980, tổng viện trợ của các nuớc CMEA cho Việt Nam dạt tới mức 1,5 tỷ USD, giữa nam 1989, Việt Nam vẫn hy vọng Liên Xô tiếp tục duytrì khoản viện trợ nàytrong vòng 5 nam tiếp theo, nhung tất cả dã bị cắt dột ngột vào nam 1990. Trong khi dó, nhu cầu ngoại tệ dể nhập những mặt hàng thay thế nguồn nhập khẩu từ các nuớc CMEA phải lên tới 1 tỷ USD mỗi nam. Nhung, cung nhờ sự sụp dổ của khối CMEA mà Việt Nam mới tích cực tìm bạn hàng ở những khu vực khác287. Xuất khẩu sang những thị truờng mới tang vọt từ 463 triệu USD, nam 1988, lên 978 triệu USD, nam 1989; chủ yếu nhờ hai mặt hàng: dầu mỏ và gạo288.

Cuối tháng 8-1991, Trung tâm buôn bán ngoại tệ dầu tiên của Việt Nam dã duợc mở tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm có 40 thành viên là các co quan nhà nuớc, trong dó có 7 ngân hàng thuong mại và 33 tổ chức ngoại thuong, các công ty nhập khẩu vàng bạc và những công ty thực

hiện các dịch vụ về kiều hối. Cùng với sự xuất hiện của trung tâm này, tất cả các giao dịch về ngoại tệ dều duợc thực hiện với tỷgiá hình thành ở dó và mức chênh lệch tối da của tỷ giá bán ra chỉ duợc cao hon tỷ giá quy dịnh là 0,5%. Đồng dôla bắt dầu duợc dịnh giá 10.500 dồng tại Trung tâm giao dịch ngoại hối vào dầu tháng 10-1991.

Trong hai nam 1989 – 1990 có khoảng 450 nghìn lao dộng ở các xí nghiệp quốc doanh bị giảm biên chế hoặc nghỉ huu mà không tìm duợc công việc làm mới. Theo uớc tính của Bộ Lao dộng và báo cáo tình hình xí nghiệp, con số này chiếm 78% trong tổng số 570 nghìn công nhân du thừa vào dầu nam 1988. Trong nam 1991, có thêm 150 nghìn công nhân từ các xí nghiệp quốc doanh bị giảm biên chế. Những nỗ lực “tinh giản biên chế” nhằm giảm 20% số viên chức nhà nuớc cung làm mất việc thêm khoảng 250 nghìn nguời. Khi ấy, hon 600 nghìn bộ dội cung vừa giải ngu theo chính sách phục viên. Đội quân thất nghiệp dông lên chua từng thấy289.

Thị truờng cung nhanh chóng tạo ra khoảng cách giữa nông thôn – thành thị và giữa các vùng trong cả nuớc. Nam 1992-1993, thu nhập bình quân dầu nguời ở thành thị cao gấp dôi khu vực nông thôn. Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, trung du phía Bắc, khu Bốn cu có thu nhập thấp hon mức bình quân của cả nuớc. Giai doạn 1991-1995, tỷ lệ tang truởng GDP tại Hà Nội và Sài Gòn cao gấp từ 1,5-2 lần so với mức bình quân của cả nuớc290. Làn sóng di cu còn tiếp tục làm thay dổi một cách sâu sắc dời sống kinh tế, xã hội và van hóa của Việt Nam.

Tuy giáo viên chua phải là dối tuợng uu tiên tinh giản biên chế trong giai doạn này, nhung kinh tế thị truờng dã tác dộng một cách không cuỡng lại duợc dối với ngành giáo dục. Mức luong khởi diểm của một giáo viên phổ thông co sở, có chất luợng vào tháng 6-1991 là 45.000

dồng/tháng, tuong duong với 5,35 dôla Mỹ theo tỷ giá thị truờng. Mức luong cao nhất của thang luong cho một giáo viên phổ thông co sở kỳ cựu 30 nam trong nghề là 63.000 tuong duong với 7,5 USD/tháng. Để sống duợc, hầu hết giáo viên cấp 1 dạy nửa ngày, còn nửa ngày phải làm việc khác dể tang thu nhập. Một dội ngu rất lớn, giáo viên nang dộng dã lần luợt bỏ nghề ra kinh doanh hoặc tìm kiếm những công việc có thu nhập tốt hon trong các ngành khác.

Nhà nuớc chua thể làm gì dể ngan chặn làn sóng này. Tổng mức chi tiêu của Chính phủ cho giáo dục trong nam 1990 chỉ hon 1 USD/dầu nguời; trong khi dó, con số này ở Trung Quốc cùng thời là 6,5 USD, ở Ấn Độ là 11,15 USD. Đặc biệt, các giáo viên tiếng Anh ở trong các truờng dại học nhanh chóng kiếm duợc những công việc có thu nhập cao gấp hàng tram lần so với luong trong ngành; nguợc lại, bộ môn tiếng Nga gần nhu bị xóa sổ do không còn sinh viên dang ký học.

Phần lớn giáo viên tiếng Nga bỏ nghề hoặc chuyển sang học thứ ngôn ngữ thời thuợng: tiếng

Anh.

Để có thể thực hiện các chuong trình cải cách, Việt Nam cần có những khoản viện trợ mới. Nhung dể có viện trợ mới, Việt Nam dứng truớc dòi hỏi cấp thiết phải thanh toán những khoản nợ nuớc ngoài. Tính dến cuối nam 1990, tổng số nợ của Việt Nam lên dến 8,3 tỷ USD, gần bằng GDP, trong dó có 3,2 tỷ nợ bằng ngoại tệ mạnh, phần còn lại là khoản nợ bằng dồng Rúp chuyển dổi. Đây là khoảng thời gian mà UNDP dóng một vai trò quan trọng trong việc viện trợ cho quá trình dổi mới và vận dộng nhằm khôi phục lại các chuong trình viện trợ song phuong và da phuong cho Việt Nam. Trong các nam 1989, 1990, Chính phủ phải “vay”từ các ngân hàng quốc doanh những khoản tín dụng lên tới 3.400 tỷ dồng dể chi tiêu.

Chính kinh tế thị truờng và chính sách tự do giao thuong dã giải quyết những gánh nặng này thay vì những dồng tiền duợc dua ra từ ngân sách. Chính sách hộ khẩu vẫn duợc duy trì trong suốt thập niên 1990. Nhung nếu nhu thời bao cấp, cuốn sổ hộ khẩu luôn di kèm với sổ gạo, việc làm, quyền mua xe, mua nhà, thuê nhà và quyền học hành của con cái, thì ở thời diểm ấy thị truờng có thể giải quyết gần nhu tất cả. Thị truờng còn xử lý một cách lặng lẽ sự phân bố không dồng dều về dân cu giữa các vùng kinh tế291. Cùng với sự phát triển của kinh tế tu nhân, Sài Gòn, Hà Nội trở thành thị truờng lao dộng lớn nhất dể giải quyết phần lớn số lao dộng du thừa vừa bị “giảm biên” từ khu vực Nhà nuớc292.

Chứng kiến sự thay dổi tới từng gốc rễ kể từ khi dể cho nguời dân duợc tự do làm an mới thấy hết những mất mát mà Việt Nam phải gánh chịu thời kinh tế tu nhân bị dặt ra ngoài vòng pháp luật.

Luợc sử kinh tế tu nhân

Cuối thế kỷ 19, ở miền Nam dã có những dại diền chủ với ruộng dất “thẳng cánh cò bay” nhu Huyện Si, nhu Tổng Đốc Phuong… Nguời duợc xếp hạng giàu thứ tu, thân phụ của “Công tử Bạc Liêu”, ông Trần Trinh Trạch, cung sở hữu 74 sở diền, với 110.000 hecta dất trồng lúa, gần 100.000 hecta ruộng muối. Sau nam 1907, từ cuôc vận dông Duy Tân cua nhom Đông Kinh Nghia Thuc, phong trao khuêch truong thuong nghiêp dã làm xuất hiện nhiêu thuong nhân vua buôn ban vua dầu tu công nghê.

Duới thời Pháp thuộc: “Ở Ha Nôi co hiêu Đông Loi Tê ban hang nôi hoa, hiêu Hông Tân Hung lam dô son, hang Quảng Hung Long do nhiêu nha buôn hun vôn, hiêu Đông Thanh Xuong chê

tao xuyên bông dai doa va do cac nha nho Hoang Tang Bí va Nguyên Quyên quan ly… O Nghê An, Ngô Đuc Kê tô chuc Triêu Duong thuong quan, con o Quang Nam, công ty Quan tri hiêp thuong phat triên tu nam 1907 voi môt sô vôn khoang chung 200.000 dôla; công ty mua lâm thô san dem di ban o Ha Nôi, Sài Gòn, Huong Cang, rôi lai mua hang o cac noi do vê. O Phan Thiêt, công ty buôn ban Liên Thanh, thanh lâp nam 1908, xuât cang duong, quê, to va se mo thêm hai chi diêm lon o Sài Gòn va Hôi An”293.

Khi Thê chiên thu nhât bung nô, môt sô nhung hôi buôn nay loi dung hang hoa bên Phap không cho sang duoc dê phat triên hoat dông cua ho: “Hang Quang Hung Long thanh công trong lãnh vuc xuât nhâp cang, mac dâu cac quyên loi cua nguoi Âu rât manh me trong lãnh vuc nay; công ty Vu Van An chuyên môn buôn ban cac loai to lua dat gia; Nguyên Huu Thu tuc Sen, truoc lam chu hang xe o Hai Phong, tro thanh chu hang tau thuy chay giua Huong Cang va Hai Phong trong nhung nam Thê chiên. Đông thoi, nhiêu nha may in duoc mo, nhu nha may in cua Ngô Tu Ha, Lê Van Phuc o Ha Nôi, Bui Huy Tin o Huê”294.

Một trong những doanh nhân tiêu biểu lúc bấy giờ là Bạch Thái Buởi. Tháng 4-1916, Bạch Thái Buởi lập ra “Giang hải luân thuyền Bạch Thái công ty” ở Hải Phòng. Đến nam 1919, Bạch Thái Công ty dã sở hữu hon 30 chiếc thuyền, chua kể các thuyền phụ; 20 sà lan; 13 chiếc cầu tàu dứng, 16 chiếc cầu tàu nổi. Tàu nhỏ nhất chở duợc 55 nguời; tàu lớn nhất, chạy tuyến Hà Nội – Nam Định, chở duợc 1.200 nguời. Nam 1920, Bạch Thái Buởi còn dịnh mua tàu 3.000 tấn từ Mỹ dể vuon sang Âu, Mỹ. Ông tuyên bố: “Truớc kia ta cạnh tranh với các Hoa thuong trên mặt sông, từ nay trở di ta lại cạnh tranh với các tàu bè trên mặt biển”295. Rất tiếc là khát vọng của Bạch Thái Buởi không thành. Nam 1925, sau khủng hoảng kinh tế thế giới, ông da phai ban tât ca sô tau cua mình cho nguời Pháp.

Trong những thập niên sau dó, một số doanh nhân nguời Việt tiếp tục thành công trong những ngành kỹ nghệ tuởng chỉ có nguời “Tây”dộc chiếm. Ông Ngô Tử Hạ dầu tu vào ngành in và trở thành “nhà tu bản ngành in và bất dộng sản hàng dầu xứ Đông Duong”. Ông Nguyễn Son Hà lập hãng son, chế ra loại son Ré sistanco, cạnh tranh duợc với các loại son của Pháp trên cả các thị truờng Lào, Campuchia và Thái Lan. Từ một diền chủ có 18.000 hecta ruộng, ông Truong Van Bền mở hãng xà bông “Truong Van Bền và các con”, cho ra dời bánh “xà bông cô Ba”, dánh bại các loại xà bông nhập cảng, thâu tóm thị truờng Đông Duong rồi xuất sang Huong Cảng, châu

Phi, Tân Đảo…

Nam 1926, môt sô nha tu ban va dia chu o Sài Gòn dã gop vôn thanh lâp Viêt Nam Ngân hang, Societe Annamite de Credit. Tuy vậy, kinh doanh cua tu ban Viêt Nam chỉ có thể thu hep trong pham vi tiêu công nghiêp va tiêu thuong mai; trongsuôt thoi Phap thuôc, nhung xi nghiêp tu ban Viêt Nam dung trên 200 công nhân vẫn còn rất hiêm296.

Ở miền Bắc, trong khoảng thời gian từ nam 1954 dến 1958, tu bản tu doanh và cá thể vẫn duợc Chính phủ Hồ Chí Minh cho làm an. Chính họ là lực luợng giúp khôi phục nền kinh tế miền Bắc bị tàn phá nghiêm trọng sau chín nam Việt Minh “truờng kỳkháng chiến”297. Nhung vai trò của họ chỉ duợc khai thác trong một thời gian ngắn.

Nam 1954 từ noi tản cu trở về, gia dình ông Trịnh Van Bô không còn một can nhà nào dể ở, cho dù truớc dó, ông sở hữu biệt thự nổi tiếng 48 Hàng Ngang và nhiều dinh thự khác nhu 34 Hoàng Diệu, 24 Nguyễn Gia Thiều, 56-58 Tràng Tiền… Ông Trịnh Van Bô (1914-1988) là một doanh nhân Việt Nam nổi tiếng giữa thế kỷ 20. Cha ông, ông Trịnh Van Đuờng và cha vợ ông, ông

Hoàng Đạo Phuong, dều là những nhà nho cùng thời với cụ Luong Van Can, từng dóng góp rất nhiều cho phong trào Đông Kinh Nghia Thục.

Ông Trịnh Van Bô cùng vợ là bà Hoàng Thị Minh Hồ, trong 10 nam, kinh doanh thành công, dua tài sản của hãng to lụa Phúc Lợi tang lên 100 lần so với ngày thừa kế hãng này từ cha mình. To lụa do Phúc Lợi sản xuất duợc bán sang Lào, Campuchia, Thái Lan, duợc các thuong nhân Pháp, Anh, Thụy Si, Thụy Điển, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản tìm kiếm.

Từ nam 1944, gia dình ông nằm trong sự chú ý của những nguời cộng sản. Ngày 14-11-1944, hai vợ chồng ông bà cùng nguời con trai cả dồng ý tham gia Việt Minh. Vài tháng sau, ông bà dã mang một vạn dồng Đông Duong ra ủng hộ Mặt trận Việt Minh và từ dó, gia dình ông Trịnh Van Bô trở thành một nguồn cung cấp tài chánh to lớn cho những nguời cộng sản. Đến truớc Cách mạng tháng Tám, gia dình ông dã ủng hộ Việt Minh 8,5 vạn dồng Đông Duong, tuong duong 212,5 cây vàng. Khi những nguời cộng sản cuớp chính quyền, ông bà Trịnh Van Bô duợc dua vào Ban vận dộng Quỹ Độc lập298.

Ngày 24-8-1945, khi Chính phủ lâm thời về Hà Nội, Hồ Chí Minh, Truờng Chinh, Phạm Van Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Tùng dều dã ở hoặc qua lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ba dêm dầu Hồ Chí Minh ngủ trên giuờng của ông bà Trịnh Van Bô, sau dó, ông xuống tầng hai, ngủ trên chiếc giuờng bạt còn các nhà lãnh dạo khác thì kê ghế da hoặc rải chiếu ngủ. Ở tầng trệt, cửa hàng vẫn hoạt dộng bình thuờng, ngay cả bảo vệ của Hồ Chí Minh cung không

xuống nhà dể tránh gây chú ý. Mọi việc an uống dều do bà Trịnh Van Bô lo, thực khách hàng ngày ngồi kín chiếc bàn an 12 chỗ.

Trong suốt từ 24-8 cho dến ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh hiếm khi ra khỏi nhà 48 Hàng Ngang. Mỗi buổi sáng, cứ sau khi ông tập thể dục xong, bà Trịnh Van Bô lại dích thân mang thức an sáng lên. Bà nhớ, có lần Hồ Chí Minh dã giữ bà lại và hỏi: “Cô bao nhiêu tuổi mà có duợc gia tài lớn thế này?”. Nam ấy bà 31 tuổi, dù có 4 dứa con nhung vẫn còn xinh dẹp. Hồ Chí Minh ở lại dây cho dến ngày 27-9-1945. Mỗi khi ra khỏi nhà, Hồ Chí Minh thuờng xuống tầng duới vấn an bà mẹ ông Trịnh Van Bô và gọi bà là mẹ nuôi. Ở 48 Hàng Ngang, Hồ Chí Minh dã ngồi viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập và tiếp các si quan OSS nhu Archimedes Patti và Allison Thomas. Quần áo mà các lãnh dạo Việt Minh bận trong ngày lễ Độc lập, dều do gia dình ông bà cung cấp. Các ông Phạm Van Đồng, Võ Nguyên Giáp thì mặc dồ của ông Trịnh Van Bô còn áo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì may bằng vải Phúc Lợi.

Khi Pháp tái chiếm Đông Duong, ông Trịnh Van Bô theo Chính phủ Kháng chiến lên Việt Bắc còn vợ ông thì mang 5 nguời con, trong dó có một dứa con nhỏ, cùng với mẹ chồng lên “vùng tự do” Phú Thọ. Những nam ở dó, từ một bậc trâm anh, thế phiệt, bà dã phải cuốc dất trồng khoai và buôn bán dể nuôi con. Nam 1955, gia dình ông Trịnh Van Bô trở về Hà Nội. Ông bà tiếp tục xoay xở và bắt dầu phải bán dần dồ dạc cu dể nuôi sống gia dình. Lúc này, toàn bộ biệt thự, cửa hàng dều dã bị các co quan nhà nuớc sử dụng hoặc chia cho cán bộ nhân viên ở. Lúc dầu, Nhà nuớc “muợn” sau tự làm giấy nói gia dình xin hiến, nhung cụ bà Trịnh Van Bô bảo: “Tôi không

ký”.

Nam 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghia” trên toàn miền Bắc, các nhà tu sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, co sở kinh doanh cho Nhà nuớc. Bà Trịnh Van

Bô lại duợc kêu gọi “làm guong”, dua xuởng dệt của bà vào “công tu hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tu sản duợc cho học tập dể nhận rõ, tài sản mà họ có duợc là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân dạo cho làm phó giám dốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tu sản từng nuôi Việt Minh nhu chủ hãng nuớc mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cung chấp nhận hợp doanh và làm phó.

Cho dù duợc ghi nhận công lao, trong lý lịch các con của ông Trịnh Van Bô vẫn phải ghi thành phần giai cấp là “tu sản dân tộc”, và rất ít khi hai chữ “dân tộc” duợc nhắc tới. Con trai ông Trịnh Van Bô, ông Trịnh Kiến Quốc kể: “Ở truờng, các thầy giáo, nhất là giáo viên chính trị,

nhìn chị em tôi nhu những công dân hạng ba. Vào dại học, càng bị kỳ thị vì luợng sinh viên nguời Hà Nội không còn nhiều. Trong truờng chủ yếu là sinh viên con em cán bộ thuộc thành phần co bản từ Nghệ An, Thanh Hóa… những nguời xếp sinh viên Hải Phòng, Hà Nội vào thứ hạng chót. Chị tôi vào Đại học Bách Khoa, nam 1959, phải di lao dộng rèn luyện một nam trên công truờng Cổ Ngu, con duờng về sau Cụ Hồ dổi thành duờng Thanh Niên, và sau dó là lao dộng trên công truờng Hồ Bảy Mẫu”. Cả gia dình ông Trịnh Van Bô, sau khi về Hà Nội dã phải ở nhà thuê. Nam 1954, Thiếu tuớng Hoàng Van Thái có làm giấy muợn can nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 nam. Nhung cho dến khi ông Trịnh Van Bô qua dời, gia dình ông vẫn không dòi lại duợc299.

Câu chuyện của gia dình Trịnh Van Bô cung chua cay dắng bằng gia dình bà Nguyễn Thị Nam, nổi tiếng với tên gọi Cát Hanh Long, một nhà tu sản vào hàng nhất nhì miền Bắc. Cung nhu nhiều nhà tu sản khác, ba mẹ con bà Nguyễn Thị Nam dã ham hở ủng hộ phong trào Việt Minh từ tháng 5-1945. Bà dã từng vận dộng bạn bè và tự mình mua tín phiếu Việt Minh, mua vải dỏ, vải vàng may cờ dỏ sao vàng, ủng hộ tiền, gửi thuốc men, thóc gạo, dụng cụ ấn loát lên Chiến khu Việt Bắc…

Sáng ngày 19-8-1945, bà Nam dã dùng xe ô tô của gia dình, cắm cờ dỏ sao vàng ngay dầu mui xe chạy lên Thái Nguyên, báo tin “Hà Nội dã khởi nghia” cho nguời con trai thứ hai là Hoàng Công dang hoạt dộng bí mật ở Võ Nhai duới sự lãnh dạo của các cán bộ cộng sản. Trong một trạng thái phấn khích, bà Nam dã cho xe chạy một vòng quanh thành phố Thái Nguyên rồi mới sang Đồng Bấm, lên La Hiên, Đình Cả. Đó là một hành dộng bất chấp nguy hiểm vì khi ấy nguời Nhật chua chính thức dầu hàng.

Hai con bà Nam: Hoàng Công, tham gia Tổng khởi nghia ở Thái Nguyên; Nguyễn Hanh, tham gia Tổng khởi nghia ngay tại phủ Khâm sai Bắc Bộ và sau dó duợc cử di bảo vệ phái doàn gồm có các ông Nguyễn Luong Bằng, Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận vào Huế tiếp nhận sự thoái vị và nhận ấn kiếm vàng của Bảo Đại dem về Hà Nội, dúng lúc dang diễn ra lễ mít tinh ở Quảng truờng Ba Đình ngày 2- 9-1945.

Trong “Tuần lễ vàng”, gia dình bà Nam dã góp 100 luợng vàng tại Hải Phòng. Ở Thái Nguyên, gia dình bà duợc Trung uong Việt Minh giao trách nhiệm giúp dỡ và cham sóc các cán bộ của Đảng từ Chiến khu về, trong dó có những nguời nhu gia dình ông Hoàng Hữu Nhân, Bí thu dầu tiên của Hải Phòng, và gia dình ông Lê Đức Thọ. Con trai Hoàng Công của bà sau dó duợc ông

Lê Đức Thọ diều từ Thái Nguyên về Hà Nội. Toàn quốc kháng chiến, Hoàng Công bị gãy chân tại mặt trận Ngã Tu Sở khi dang chiến dấu bảo vệ Thủ dô.

Cung trong những ngày dó, gia dình bà Nam dã dể lại khối tài sản lớn của mình ở Hà Nội và Hải Phòng dể theo mặt trận Việt Minh. Ở Thái nguyên, bà Nam tích cực tham gia công tác phụ nữ và duợc bầu làm Hội truởng Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên và là Ủy viên Liên khu Hội Phụ nữ. Thế nhung, khi cải cách ruộng dất, bà Nguyễn Thị Nam bị quy là dịa chủ và bị gán tội “Việt gian – Quốc dân Đảng” rồi trở thành một trong những dịa chủ dầu tiên bị xử bắn300.

Cuối nam 1955, sau khi tập kết ra Bắc, duợc giao phụ trách trong công tác sửa sai trong cuộc vận dộng cải cách ruộng dất và chỉnh dốn tổ chức, LêĐức Thọ dã minh oan cho bà Nguyễn Thị Nam và sửa lại thành phần cho bà là “tu sản, dịa chủ kháng chiến”. Thế nhung, theo ông Nguyễn Hanh: Không phải mọi việc sau này dều thuận buồm, xuôi gió ngay dối với con cháu của bà.

Ông Nguyễn Hanh viết: “Con gái dầu lòng của tôi duợc vào dại học, nhung khi tốt nghiệp, phân công tác, không duợc co quan nào chấp nhận vì bà nội cháu dã bị xử trong cải cách ruộng dất. Con trai thứ hai, theo guong bố và chú, xin vào bộ dội. Đon vị thấy cháu công tác tốt và có khả nang dã cử cháu di học dại học tại chức. Vừa học, vừa công tác tốt nhung dến khi tốt nghiệp, phát hiện ra cháu là cháu nội dịa chủ, nhà truờng dã không cho cháu thi tốt nghiệp. Nhờ có sự giúp dỡ tận tình của bác Lê Đức Thọ nên hai con tôi mới thoát nạn. Ba nam sau khi sửa sai cho mẹ tôi, hai anh em tôi mới duợc xét lại thành tích phấn dấu từ thời Việt Minh bí mật và nhờ có sự giúp dỡ nhiệt tình của bác Lê Đức Thọ, nên chúng tôi duợc phục hồi công tác. Chỉ tiếc rằng việc thực hiện sửa sai không nhất quán và không làm dúng ở co sở. Em trai tôi chua duợc chứng nhận là thuong binh và phục hồi Đảng tịch… Sau này bác Lê Đức Thọ dã dến tham gia dình chúng tôi, tặng một tập tho, ở trang dầu có ghi mấy dòng chữ tự tay bác viết: Thân tặng Hanh và Công, dể dánh dấu chấm dứt sự dau buồn kéo dài lâu nam của gia dình và cung là của

chung”301.

Trong thời kỳ khôi phục kinh tế, 1955-1957, nền kinh tế miền Bắc phát triển ngoạn mục, chủ yếu nhờ vào lực luợng tu nhân: Công nghiệp tu bản tu doanh tang 230%; cá thể, tiểu chủ, tang 220,2%. Tu bản tu doanh và tiểu chủ, cá thể tạo ra một luợng sản phẩm chiếm 73,7% tổng giá trị công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở miền Bắc. Nhung “Công cuộc cải tạo công thuong nghiệp tu doanh” bắt dầu ở miền Bắc vào tháng 9-1957 dã gần nhu triệt tiêu hoàn toàn kinh tế tu bản tu

nhân, tiểu chủ và cá thể bằng cách tuớc doạt duới các hình thức “tập thể hóa” hoặc buộc các nhà tu sản phải dua co sở kinh doanh của họ cho Nhà nuớc với cái gọi là công tu hợp doanh.

Chỉ hai nam sau cải tạo công thuong nghiệp tu doanh, ở miền Bắc, tài sản của các nhà tu sản teo dần trong khi lực luợng quốc doanh bắt dầu chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế302. Van kiện Đảng ghi ngắn gọn: “Đến cuối nam 1960, 100% hộ tu sản công nghiệp và 97,2% hộ tu sản thuong nghiệp duợc cải tạo”303. Con số dó dủ dể nói lên chính sách dối với tu nhân của chế dộ miền Bắc.

Nhà nuớc theo Hiến pháp 1959, với tham vọng “lãnh dạo hoạt dộng kinh tế theo một kế hoạch thống nhất”304, dã coi “Kinh tế quốc doanh thuộc hình thức sở hữu của toàn dân, giữ vai trò lãnh dạo trong nền kinh tế quốc dân và duợc Nhà nuớc bảo dảm phát triển uu tiên305; Khuyến khích, huớng dẫn và giúp dỡ sự phát triển của kinh tế hợp tác xã306”.

Mặc dù nói, “Nhà nuớc chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về tu liệu sản xuất và của cải khác của nhà tu sản dân tộc”, nhung vì Hiến pháp dã giao nhiệm vụ cho Nhà nuớc “ra sức huớng dẫn các nhà tu sản dân tộc hoạt dộng có lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần phát triển kinh tế quốc dân phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nuớc”; bằng cách “khuyến khích và huớng dẫn các nhà tu sản dân tộc di theo con duờng cải tạo xã hội chủ nghia bằng hình thức công tu hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”307; dồng thời “nghiêm cấm việc lợi dụng tài sản tu hữu dể làm rối loạn sinh hoạt kinh tế của xã hội, phá hoại kế hoạch kinh tế Nhà nuớc”308, cho nên phạm vi tu hữu duợc “Nhà nuớc bảo hộ” chỉ còn ở mức “quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải dể dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác”309.

Cung từ nam 1960, kinh tế tu bản tu nhân trên miền Bắc gần nhu hoàn toàn biến mất. Hậu duệ của những Bạch Thái Buởi, Lê Van Phúc… ly tán. Các nhà tu sản dóng góp nhiều tiền bạc cho kháng chiến nhu Nguyễn Son Hà, Ngô Tử Hạ… có duợc vài ghế danh dự trong Chính phủ, trong Quốc hội, nhung họ và con cái không còn là những doanh nhân – vai trò mà họ có thể dóng góp thiết thực nhất cho dất nuớc.

Miền Bắc “tiến lên chủ nghia xã hội” bằng “kế hoạch 5 nam lần thứ nhất”, 1960-1965, trong một bối cảnh kinh tế tu nhân bị o ép và quốc doanh thì èo uột. Chiến tranh, với khẩu hiệu, “tất cả cho tiền tuyến; tất cả dể dánh thắng giặc Mỹ xâm luợc”, dã biện minh cho sự nghèo nàn và viện trợ dã giúp miền Bắc sống thoi thóp cho dến ngày thống nhất. Ở miền Nam, sau nam 1975, những thuong hiệu một thời nổi tiếng cung lần luợt biến mất sau khi chủ nhân của nó di tản, bị bắt,

hoặc trở thành thuyền nhân và các nhà máy bị quốc hữu hóa rồi duợc quản lý theo kiểu cha

chung không ai khóc.

Nhung, cho dù trải qua ba thập niên xây dựng chủ nghia xã hội, “chợ den” chua bao giờ bị triệt tiêu ở miền Bắc; cho dù các nhà tu sản bắt dầu bị “dánh” kể từ tháng 9-1975 và bị “cải tạo” triệt dể hon vào tháng 3-1978, lực luợng “con phe” ở miền Nam chua từng một ngày chịu khuất phục. Họ dã từng phải trả giá cả bằng tù tội. Một trong những nguời tiêu biểu dó là “Vua Lốp” Nguyễn Van Chẩn.

Ông Nguyễn Van Chẩn vốn là một nông dân ở huyện Nga Son, Thanh Hóa. Nam 1954, ông bán tài sản giá trị nhất là ruộng rau, dể lại cho vợ con một nửa số tiền, mang theo nửa còn lại tìm duờng ra Hà Nội. Thoạt dầu, ông xin vào làm công ở “ngành công nghiệp” bóc vỏ xe ô tô cu cắt ra làm dép. Sau khi tích luy duợc một số vốn, ông mở một cửa hiệu nhỏ rồi dón vợ con lên Hà Nội. Chỉ sau một nam, công việc làm an của ông Chẩn phất lên…, ông bị coi là “tu sản mới”, bị kiểm tra, toàn bộ tài sản bị tịch biên và bản thân ông bị dua di cải tạo nhung may mắn, chỉ vài ngày sau, ông duợc thả.

Trở về, ông Chẩn vẫn không bỏ duợc máu làm an. Một lần, khi cây viết mực của con bị hu, ông phải di khắp các “cửa hàng bách hóa” mà không mua duợc vì “bút máy” là mặt hàng “phân phối”. Sau khi tìm mua duợc một cây viết chợ den với giá mắc hon giá trong cửa hàng Nhà nuớc nhiều lần, ông Chẩn tức mình ngồi tháo ra nghiên cứu và nhận thấy là ông có thể tự làm duợc những cây viết mực. Thế rồi ông chuyển sang làm “bút máy”310. Bút máy của ông có kiểu dáng gần giống và chất luợng tuong duong “bút máy Truờng Son” nhung duợc bán tự do với giá rẻ.

Ông Chẩn lại phất lên và lại bị “tài chính quận Hoàn Kiếm” kiểm tra chỉ vì ông “sống ở quận Ba Đình mà kinh doanh ở Hoàn Kiếm”. Toàn bộ công cụ, dồ nghề, nguyên liệu, sản phẩm lại bị tịch thu rồi chỉ duợc trả một phần nhỏ sau nhiều lần thua kiện. Bỏ nghề làm bút máy, ông Chẩn chuyển sang nghề dắp vỏ xe dạp, xe thồ và lại nhanh chóng trở thành nguời giàu có.

Tháng 4-1960, ông bị công an quận Ba Đình khám nhà, tịch thu toàn bộ mô to, khuôn, vài tạ dép dứt quai, cao su và hàng ngàn chi tiết bút. Với tội danh “tàng trữ và dầu co hàng hoá sản xuất trái phép”, ông Nguyễn Van Chẩn bị Tòa án Hà Nội xử 30 tháng tù giam. Thay vì phúc thẩm ngay theo don kháng án của ông, mãi tới ngày 25-5-1972, Tòa án Tối cao mới xử phúc phẩm và tại bản án số 22, ông Chẩn chỉ bị buộc tội “dầu co”, bị “cảnh cáo và nộp phạt một tram dồng” sau khi dã phải trải qua 18 tháng trong nhà tù Hỏa Lò, 12 tháng trong trại tù Y ên Bái.

Khi từ nhà tù Y ên Bái trở về, ông Chẩn dã dịnh từ giã con duờng làm an tu nhân. Ông xin vào công ty vệ sinh Thành phố và buổi tối thì nhận xam của nhà máy cao su về nối. Nhung… ông nhận ra nhựa vá xam lốp quốc doanh “chua vá dã bong” nên mày mò pha chế và tìm ra một loại nhựa tốt hon.

Các chủ dại lý lại xếp hàng rồng rắn truớc xuởng nhựa của ông Chẩn. Khách các tỉnh xa về mua hàng can lớn. Ông Chẩn lại giàu lên. Tháng 1-1974, ông bị bắt và ngồi tù cho tới ngày 30-3 nam ấy. Ra tù ở tuổi 50, sau 5 nam bán chè chén, nam 1979, ông quay lại với nghề làm vỏ xe ở một trình dộ cao hon. Nam 1980, ông Chẩn cho xuất xuởng những chiếc vỏ xe thồ có thể chạy ba nam trong khi vỏ xe cùng loại của Nhà máy cao su Sao Vàng chỉ chạy duợc chua dầy sáu tháng. Sản phẩm của ông từng duợc trao Huy chuong dồng tại Hội chợ triển lãm Giảng Võ. Từ dây, ông Nguyễn Van Chẩn bắt dầu chết tên “Vua Lốp”.

Khách hàng từ các tỉnh phía Bắc dến xếp hàng hằng ngày chờ mua vỏ xe thồ dã làm cho Chính quyền chú ý. Nguời có tiền án hai lần vào tù vì “buôn bán xam lốp ô tô cu và sản xuất bút máy” duong nhiên trở thành dối tuợng của công an. Đầu tháng 7-1983, ông Chẩn bị kiểm tra và trong suốt ba ngày trời, “duới sự chứng kiến của hàng tram quan chức dủ mọi thành phần và hàng ngàn nguời dân hiếu kỳ, ông Chẩn và các con dã phải thao tác quy trình làm lốp bằng phế liệu”. Không tìm ra lỗi, Chính quyền Hà Nội dành cáo buộc ông “tự ý sản xuất” làm “rối loạn” nền kinh tế mà, trong dó, mọi sản phẩm dều do Nhà nuớc lên kế hoạch, giao chỉ tiêu từ khâu sản xuất cho dến khâu tiêu thụ.

Hà Nội nam 1983 là dịa phuong duy nhất hang hái thi hành “Chỉ thị Z-30” mà theo dó, sự giàu có cung duợc coi là tội trọng. Sáng sớm ngày 27-8-1983, lực luợng liên ngành quận Ba Đình bao gồm quân dội, công an, viện kiểm sát, ủy ban dã phong tỏa nhà và xuởng sản xuất của Vua Lốp, rồi tuyên bố, tịch thu toàn bộ nhà cửa, nguyên vật liệu và dây chuyền sản xuất xuởng sản xuất lốp, dồng thời ra lệnh bắt giam ông Chẩn. Đã có kinh nghiệm từ ba lần truớc, ông Chẩn bỏ trốn lên Hàng Đào, rồi sau dó bắt dầu những ngày phiêu bạt, nay Thái Bình, mai Hải Phòng, Hà Bắc. Gần một nam sau, khi vợ con khởi kiện, ông Chẩn mới lặng lẽ trở về. Nhữngnam ấy, cả gia dình Vua Lốp phải ra phố Son Tây cang lều trên vỉa hè sống tạm311.

Không quy mô nhu “Vua Lốp” nhung nhiều nguời dân vẫn tìm cách xoay xở. Bốn ngành “công nghiệp mui nhọn” mà xã hội “bung ra” những nam 1978, 1979 và trong thập niên 1980 là: “Vá ép áo mua rách/ Bom mực ruột bút bi/ T ái chế dép nhựa cu/ Lộn cổ áo so mi”. Ở miền Bắc,

ngành công nghiệp “ T ái chế dép nhựa cu” có noi duợc thay bằng “Gia công quy gai xốp”. Có một ngành “công nghiệp” không thể không nói tới là “ngành” nấu xà bông. Thành phần cục xà bông phản ánh khá trần trụi một môi truờng kinh doanh dã bị co chế quan liêu bao cấp làm cho biến dạng.

Sau nam 1975, những hãng nổi tiếng nhu bột giặt Viso hay “Truong Van Bền và các con” dều bị quốc hữu hóa hoặc phải hoạt dộng duới dạng “công tu hợp doanh”. Một nguời con của ông Truong Van Bền duợc Nhà nuớc cho làm Phó giám dốc Công ty hợp doanh này. Đó là một giai doạn mà vật tu nguyên liệu dể làm các loại “xà bông cô Ba” không còn duợc nhập. Không có nguyên liệu dể sản xuất xà bông theo quy trình hiện dại, Công ty hợp doanh phải dặt hàng các co sở sản xuất nhỏ lẻ gia công theo cách cho xút và dầu dừa vào thùng phuy dun, khuấy.

Một nguời từng sản xuất xà bông từ cuối thập niên 1970, ông Thái Van Hừng312 kể: “Ngày chuẩn bị ra truờng, tôi về thực tập ở Cần Tho, tình cờ ra chợ mua xà bông, thấy giá cao quá. Hồi dó, dua 1kg xà bông từ Sài Gòn về phải qua biết bao nhiêu trạm kiểm soát. Thay vì mua xà bông, tôi về mang sách vở, dồ dùng học tập, bán hết, gom thêm tiền, mua 10kg dầu dừa, xút… nấu xà bông. Cứ sáng làm, chiều bán, một vốn, ba, bốn lời. Đúng một tháng sau tôi có gần bốn chục luợng vàng. Thay vì trở về truờng nhận bằng tốt nghiệp, tôi thành lập tổ hợp sản xuất xà bông, bỏ ra 30 luợng vàng mua một máy ép dầu dừa. Máy ép dầu dừa của tôi là chiếc thứ hai ở tỉnh Hậu Giang hồi dó”. Nam 1980, chỉ hon một nam sau ngày khởi nghiệp, ông Hừng nhớ lại: “Tôi có cả nghìn cây vàng”.

Nhung, ở Sài Gòn, không phải ai cung có thể mua xút và dầu dừa. Ông Trần Mộng Hùng, nguời nhận gia công xà bông cho các công ty hợp doanh; nguời từng cho cậu sinh viên Thái Van Hừng mua xà bông chịu mang về miền Tây bán, kể: “Sau cải tạo, toàn bộ hàng hóa, nguyên liệu mà Nhà nuớc thu duợc của các nhà tu sản duợc dua về cho Công ty Vật tu Tổng hợp Thành phố. Nhiều loại vật tu vô cùng khan hiếm ngoài thị truờng lại nằm chết dí trong kho vì những nguời quản lý không biết nó là gì. Những thùng xút mà các nhà nấu xà bông dang cần lại thuờng bị bỏ bê vì thủ kho ngại tới gần những loại hóa chất dụng tay vô là bị phỏng. Mãi về sau khi vật tu trên thị truờng dã cạn kiệt, hàng mới không duợc nhập về, các nhà sản xuất mới tìm dến và phát hiện ra nhiều loại vật tu ngoài thị truờng khan hiếm lại dang bị bỏ phế”.

Do quen biết giám dốc Công ty Dầu dừa Bến Tre, ông Trần Mộng Hùng xuống thẳng công ty của ông này “xin mua”. Ông giám dốc nói: “Dầu tao sản xuất ra không có chỗ dể chứa, mua là

tao bán chứ xin gì”. Ông Hùng cả mừng, nói: “Vậy chú bán cho con theo giá thị truờng 5 dồng/kg di”. Ông giám dốc trả lời: “Bán theo giá thị truờng dể tao di tù à? Tao bán mày 5 xu/kg thôi. Nhung mày phải kiếm một công ty quốc doanh xuống dây mua thì tao mới bán duợc”. Theo quy dịnh lúc dó: Chỉ các công ty quốc doanh có chức nang mới duợc mua xút, dầu dừa rồi cung cấp cho các xí nghiệp duợc giao kế hoạch sản xuất xà bông cho thuong nghiệp; Các xí nghiệp này lại nhận xút và dầu dừa theo dịnh mức rồi dặt các co sở gia công nấu xà bông.

Các co sở gia công xà bông nếu cứ nhận xút và dầu dừa theo dịnh luợng rồi giao lại một số xà bông dúng nhu tính toán Nhà nuớc thì sẽ không có lời. Họ phải kiếm sống bằng cách, nếu dịnh luợng xút cho một thùng xà bông là 15 kg thì chỉ sử dụng 9 kg, rồi dem 6 kg ấy ra chợ trời bán. “Công thức” áp dụng với dầu dừa cung tuong tự. Nhung, muốn cho cục xà bông cứng lại thì phải dảm bảo nấu dủ 62% dầu dừa trong khi hon 1/3 dầu dừa dã duợc bán cho chợ den. Thế là các co sở gia công dành phải trộn mỡ phế thải của nhà máy Vissan, thậm chí pha dất sét và dùng muối thay cho soda… dể cho cục xà bông cứng lại.

Sự chi li chặt chẽ của các nhà làm “kế hoạch hóa” dã khiến cho nền kinh tế phải tồn tại bằng cách dối phó. Không chỉ có xà bông mà cả kem dánh rang, vỏ xe… cung dều phải “dộn”. Những dôi dép nhựa tái chế chỉ di duợc vài tuần là gãy dế, tụt quai. Những chiếc vỏ xe chạy duợc dam chục cây số là bắt dầu phải lấy mây khâu mới giữ duợc cho phần cao su dính liền với “tanh” thép. Những chiếc yên xe chỉ di mấy bữa là lo xò không còn khả nang dàn hồi…

Nam 1990, khi Luật Công ty và Doanh nghiệp tu nhân ra dời, những nguời nhu ông Thái Van Hừng, Trần Mộng Hùng… từ giã những co sở sản xuất, kinh doanh du kích của mình, bỏ vốn lập công ty. Cung nhu nền kinh tế nói chung, từng nguời bắt dầu phải học dể thích ứng cho một giai doạn mới.

Học lại “kinh tế thị truờng”

Theo ông Phan Van Khải, nói là Đảng bắt dầu dổi mới từ nam 1986, nhung trên thực tế trong suốt nhiệm kỳ VI, trong Đảng vẫn tranh cãi liên miên về duờng di. Mãi tới nam 1991, những nguời chủ truong cải cách mới dua duợc bốn chữ “kinh tế thị truờng” vào van kiện.

Sau khi khởi xuớng con duờng dổi mới, ông Truờng Chinh vừa giữ chức cố vấn Ban Chấp hành Trung uong vừa là truởng Tiểu ban Soạn thảo cuong linh của Đảng. Nhung vai trò của ông chấm

dứt chỉ chua dầy một nam sau dó. Đầu nam 1988, Hội nghị Trung uong lần thứ 3 nhóm họp tại Thành phố Hồ Chí Minh, khi Truờng Chinh vào Nam dự theo thuờng lệ thì nhận duợc “dề nghị” của Chánh Van phòng Trung uong Hồng Hà: “Đã lâu anh không vào Nam nên Van phòng bố trí dể anh di nghỉ”.

Nửa nam sau, ngày 30-9-1988, khi xuống gặp nhóm giúp việc ở phần tầng nửa trệt, nửa hầm, nhà số 3 Nguyễn Cảnh Chân, Truờng Chinh bị truợt chân noi mấy bậc cầu thang, ngã bật nguời ra phía sau, rồi mất.

Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh thay thế Truờng Chinh làm truởng Tiểu ban dự thảo “Cuong linh xây dựng dất nuớc trong Thời kỳ quá dộ lên Chủ nghia xã hội”. Chủ biên là Ủy viên thuờng trực Bộ Chính trị Đào Duy Tùng. Thay vì cải cách cả kinh tế và chính trị, uu tiên hàng dầu lúc bấy giờ của Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh và Đào Duy Tùng, trợ thủ dắc lực về lý luận của ông, là: “Kiên dịnh con duờng xã hội chủ nghia, trên co sở kiên dịnh học thuyết kinh diển về cách mạng vô sản và thời kỳ quá dộ trong dó có chính sách kinh tế mới của Lênin”313.

Cùng thời gian ấy, Chính phủ duợc giao soạn thảo “Chiến luợc ổn dịnh và phát triển kinh tế xã hội dến nam 2000” 314. Những nhà cải cách có một co hội dể “cài” vào van kiện của Đảng hai chữ “thị truờng”. Theo ông Trần Đức Nguyên: “Chúng tôi bàn nhau, dứt khoát phải dua vào van kiện thuật ngữ ‘nền kinh tế thị truờng’ và chấp nhận thêm duôi ‘có sự quản lý nhà nuớc’. Không có nền kinh tế nào lại không có bàn tay nhà nuớc, nhung cứ viết ra nhu thế dể những nguời sợ hãi thị truờng yên tâm”315. Cung theo ông Trần Đức Nguyên: “Đào Duy Tùng, khi ấy là ủyviên thuờng trực Bộ Chính trị, không muốn trình ‘Chiến luợc ổn dịnh và phát triển kinh tế xã hội dến nam 2000’ ra dại hội, lấy cớ dã có nhiều van kiện quá. Nếu hai ông Đỗ Muời và Võ Van Kiệt không kiên quyết bảo vệ, thì nam 1991, khái niệm kinh tế thị truờng có thể dã chua bắt dầu duợc Đảng Cộng sản Việt Nam dề cập”. Không chỉ là vấn dề câu chữ, xung dột giữa hai nhóm biên soạn “Cuong linh” và “Chiến luợc” của cùng Đại hội VII (1991) cho thấy, “cuộc dấu tranh giữa hai con duờng” trong Đảng lúc dó mới thực sự bắt dầu316.

Nhung, truớc khi các nhà lý luận thừa nhận kinh tế thị truờng, nhiều nhà hoạt dộng thực tiễn dã tìm cách liên hệ với thế giới bên ngoài dể tìm hiểu nó. Nam 1979, ở Sài Gòn, Bí thu Thành ủy Võ Van Kiệt cho lập Công ty Imexco, bổ nhiệm một nguời ngoài Đảng, ông Nguyễn Van Đức, làm phó giám dốc. Ông Nguyễn Van Đức, nguời duợc biết nhiều duới cái tên “Tây” Charles Đức hoặc Ba Đức sinh nam 1939 tại Châu Đốc, học kinh tế tại Aix-en-Provence, Pháp (1962-

1964) và Luật quốc tế tại La Haye, Hà Lan (1965-1967). Nam 1974, ông Đức về nuớc, cuới danh ca cải luong Bạch Tuyết và bắt dầu hoạt dộng kinh doanh. Cả khả nang kinh doanh và sự nổi tiếng của Bạch tuyết dã giúp ông Đức có một mối quan hệ thân tình với nhiều nhà lãnh dạo. Theo ông Đức thì ông Kiệt là nguời bật dèn xanh cho Imexco chủ dộng làm an với các thị truờng nhu Hồng Kông, Singapore, giúp các xí nghiệp nhà nuớc và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cân dối nguồn hàng, ngoại tệ, làm quen với “hạch toán kinh doanh”, dồng thời tìm duờng lách qua lệnh cấm vận của Mỹ.

Sau Đại hội VI, các nhà lãnh dạo nhu Nguyễn Van Linh, Phạm Hùng, Đỗ Muời, Võ Van Kiệt, Nguyễn Co Thạch nhận thấynhu cầu mở cửa lớn hon nên Charles Đức dã duợc sử dụng với một vai trò mới. Tháng 3-1987, Charles Đức duợc lệnh bàn giao tất cả các chức vụ trong vòng một tuần dể tập trung nghiên cứu phuong thức né tránh cấm vận dồng thời viết phuong án làm kinh tế dối ngoại và kêu gọi dầu tu nuớc ngoài trong thời kỳ mới. Để thực hiện ý dồ này, tháng 3-

1987, Chủ tịch Ủyban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Phan Van Khải duợc ông Phạm Hùng giao ký quyết dịnh thành lập Tổng công ty Kinh doanh ngoài nuớc (OFTC), trụ sở chính ở Luxembourg với 21 công ty con ở nhiều nuớc trên thế giới. Ông Đức duợc cấp vốn một triệu

USD.

Tại Thụy Sỹ, Charles Đức cho lập một công ty tài chính, chủ yếu huy dộng kiều hối, từ dấy chuyển cho các khách hàng hoặc chuyển về Intershop, một co sở vệ tinh truớc dây của Imexco. Lực luợng dầu tiên mà ông Charles Đức trông cậy là các doanh nhân và trí thức nguời Việt ở nuớc ngoài. Vài tháng sau khi thành lập OFTC, Charles Đức qua Singapore gặp ông Võ Tá Hân, lúc ấy dang là Tổng Giám dốc của Singapore Finance, Chủ tịch Hội Thuong gia Canada tại

Singapore (CBA – Canadian Business Association). Qua trung gian của Charles Đức, tháng 4-

1988, với tu cách Chủ tịch Hội, ông Hân dua một doàn gồm các thuong gia của CBA về Sài

Gòn.

Truớc nam 1989, khủng hoảng lý luận diễn ra sâu sắc trong các truờng dại học, nhất là dối với các bộ môn liên quan dến “chủ nghia cộng sản khoa học”. Sinh viên, dặc biệt là sinh viên dại học kinh tế, “chuyền tay nhau xem các tài liệu cải cách của Liên Xô, Hungary, những bài viết về nhận thức lại chủ nghia xã hội và chủ nghia tu bản, kể cả dự thảo van kiện mới của Đảng. Trong khi dó, chuong trình (kinh tế) viết từ nam 1959 vô cùng lạc hậu”317.

Theo một diều tra của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, chỉ có 17% sinh viên duợc hỏi cho rằng việc học chủ nghia Marx-Lenin là có tác dụng. “Nguyên nhân chính dẫn dến sự thờ o với việc học các môn Marx-Lenin là do nhà truờng dã dồng nhất chủ nghia Marx-Lenin với chính trị và dùng môn học này dể minh họa duờng lối chính sách của Đảng”318. Từ diều tra này, cuối nam 1988, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp có Chỉ thị 12/CT, “bãi bỏ kỳ thi quốc gia môn lý luận Marx-Lenin”.

Chỉ thị 12/CT dã làm dấy lên một phong trào của sinh viên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh dòi bỏ thi tốt nghiệp môn lý luận Marx-Lenin. Một số giảng viên dại học ở Thành phố cung lên tiếng trên báo chí cho rằng: “Bỏ thi tốt nghiệp môn lý luận Marx-Lenin là một dòi hỏi chính dáng của sinh viên dại học kinh tế”319. Ngày 7-12-1988, Bộ dã phải gửi Telex cho truờng giải thích, Chỉ thị 12/CT “không diều chỉnh” dối với ngành học kinh tế.

Ngày 10-12-1988, truờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh quyết dịnh giữ môn Kinh tế chính trị Marx-Lenin trong kỳthi quốc gia. Ngày 23-12-1988, các sinh viên Kinh tế nam cuối dã tổ chức một cuộc họp phản dối quyết dịnh này. Hai tuần sau, Hiệu truởng Đào Công Tiến phải giải thích: “20 nam nay và trong quy chế thi tốt nghiệp, môn Kinh tế chính trị duợc coi là môn thi tốt nghiệp với tu cách là môn co sở của chuyên ngành kinh tế”320.

Cho dù ông Hiệu truởng nói nhu vậy và cho dù Kinh tế chính trị học Marx-Lenin vẫn là một môn học chính trong những thập kỷ tiếp theo, ngay từ thời diểm ấy, nhu cầu thay dổi dể có duợc một chuong trình giảng dạy bắt kịp nhịp dộ chuyển dổi từ “quan liêu bao cấp” sang nền “kinh tế thị truờng” thực sự trở thành nhu cầu tự thân của cả thầy lẫn trò.

Học gần hết chuong trình phổ thông của nền giáo dục Sài Gòn, nam 1977, sinh viên Trần Ngọc Tho thi vào khoa Tài chính – Kế toán, truờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Theo ông Tho: “Một số sinh viên tốt nhiệp phổ thông hoặc dã học dại học nam thứ nhất, thứ hai truớc nam 1975, biết chút ít về kinh tế thị truờng rất thất vọng về những gì duợc dạy trong nhà truờng duợc gọi là dại học kinh tế”. Đầu thập niên 1980, sau khi ra truờng, ông Tho duợc giữ lại làm cán bộ giảng dạy, ông kể: “Hon 10 nam cứ dạy chính sách chế dộ là chủ yếu. Cứ nghị quyết nhu thế nào, mình lại lặp lại thế dó. Lúc ấy chúng tôi cung rất buồn. May mà có dổi mới”.

Theo Giáo su Trần Ngọc Tho, thế hệ của ông tiếp cận với những kiến thức về kinh tế thị truờng bắt dầu từ những bài báo trên các tờ Tuổi Trẻ và sau dó là Lao Động Chủ Nhật của các tác giả nhu Phan Tuờng Vân, Lâm Võ Hoàng, Trần Bá Tuớc…321. Những tài liệu kinh tế học duợc viết

truớc nam 1975 tại miền Nam của Giáo su Nguyễn Van Ngôn, Phó Bá Long… cung bắt dầu duợc dem ra sử dụng.

Ông Tho thừa nhận, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội có diều kiện dổi mới hon và những thay dổi ở dây ảnh huởng rất mạnh dến giáo trình của các truờng phía Nam. Trong khi dó, trong một nỗ lực cá nhân duợc sự hỗ trợ của các quan chức Viện Kinh tế Thành phố, thành viên của Đoàn ông Phan Van Khải dến Singapore nam 1988, ông Võ Tá Hân dã chuyển về nuớc hàng vạn cuốn sách, trong dó có nhiều cuốn là giáo trình các loại về kinh tế thị truờng. Nhân vật dầu tiên trong Bộ Chính trị tỏ ra am hiểu nhất về kinh tế thị truờng không phải là những nguời phụ trách về kinh tế mà là Bộ truởng Ngoại giao Nguyễn Co Thạch322. Ông Nguyễn Co Thạch không chỉ là nguời trực tiếp soạn thảo Nghị quyết 13 Bộ Chính trị khóa VI, nghị quyết mở ra một giai doạn mới trong chính sách ngoại giao của Việt Nam mà còn là nguời chủ dộng dua tri thức thị truờng vào Việt Nam323.

Sự xuất hiện của các nhà tài trợ quốc tế cung góp phần rất dáng kể giúp cho những kiến thức nền tảng về kinh tế thị truờng duợc dua tới Việt Nam. Theo Tiến sỹ Nguyễn Đình Cung324: “Thời dó, các nhà tài trợ không nhiều nhung rất quan trọng. Các dự án tài trợ bao gồm giảng dạy tại chỗ, dua nguời di dào tạo và cung cấp tài liệu. Nam 1989, Quỹ Sida Thụy Điển tài trợ cho Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung uong tổ chức dịch bộ giáo trình Kinh tế học của Paul Samuelson. Đây là tài liệu dầu tiên về kinh tế thị truờng duợc dịch và trở thành giáo trình giảng dạy chính về kinh tế ở Việt Nam kể từ sau Đổi mới”325.

Lớp bồi duỡng dầu tiên về kinh tế thị truờng do IMF tài trợ, mở tại Khách sạn Giảng Võ vào dầu nam 1990326. Lớp học chỉ mấy tuần nhung rất có ý nghia vì học viên toàn là những cán bộ cấp vụ, cấp thứ truởng, những nguời dang trực tiếp có ảnh huởng lên quytrình hình thành chính sách ở Việt Nam trong thời kỳ chuyển dổi. Nhiều dự án sau dó của UNDP còn giúp mở rộng dối tuợng tiếp cận với kinh tế thị truờng327.

Nguồn viện trợ của UNDP cho chuong trình nâng cao nang lực quản lý duợc bổ sung thêm bằng những khoản viện trợ song phuong của Thụy Điển và Úc, thông qua các học bổng dào tạo những bộ môn liên quan dến quản lý kinh tế và quản lý doanh nghiệp. Những nuớc khác nhu New Zealand, Indonesia, Malaysia và Nam Triều Tiên cung dã hợp tác tạo diều kiện cho những chuyến khảo sát nuớc ngoài trong chuong trình MDP.

Nam 1990, thông qua World Bank, Chính phủ Nhật tài trợ hai học bổng dầu tiên cho hai quan chức trẻ thuộc Bộ Ngoại giao dến Harvard, một nguời học luật, ông Nguyễn Quý Bính; một nguời học quản trị kinh doanh, bà Đinh Thị Hoa. Nam 1992, ba muoi bảy cán bộ cấp chuyên viên dang làm việc trong các co quan chính phủ dã duợc UNDP cấp học bổng dến Anh học luật, kinh tế học, quản trị kinh doanh và kinh tế phát triển. Từ dây, chuong trình dua nguời Việt Nam dến các nuớc phuong Tây tu nghiệp bắt dầu duợc các nhà tài trợ tiến hành hằng nam.

Đặc biệt, từ ngày 20-4 dến 1-5-1992, Van phòng Hội dồng Bộ truởng phối hợp với Chuong trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP), Viện phát triển Kinh tế của Ngân hàng Thế giới dã tổ chức hội thảo Kinh tế Việt Nam. Đây là một hoạt dộng quan trọng của dự án “Tang cuờng quản lý kinh tế” do Van phòng Hội dồng Bộ truởng chủ trì.

Nói là hội thảo, nhung theo nguời diều hành dự án này, ông Trần Xuân Giá, Chủ nhiệm Van phòng Hội dồng Bộ truởng: “Đây là một lớp học thực sự về kinh tế thị truờngmà các giảng viên là ba muoi chính khách, nhà khoa học nuớc ngoài; các học viên là sáu muoi tu quan chức Việt Nam gồm các vị bộ truởng, thứ truởng, viện truởng và hiệu truởng một số truờng dại học kinh tế, các chuyên viên cao cấp, các nhà khoa học, các giáo su, các nhà hoạch dịnh chính sách kinh tế vi mô của Việt Nam”.

Ông Lý Quang Diệu cung duợc mời dến lớp học này nhu một diễn giả, tuy nhiên, theo ông Trần Xuân Giá: “Ông Lý chỉ xuất hiện ở lớp học một lần dể giới thiệu ông Tang I Fang, nguời mà theo ông Lý, dã dóng một vài trò quan trọng trong các chính sách phát triển của Singapore”328. Trong suốt tuần lễ diễn ra hội thảo, theo ông Trần Xuân Giá: “Ông Lý Quang Diệu trở thành khách mời riêng của Chủ tịch Hội dồng Bộ truởng”. Ông Võ Van Kiệt dích thân dẫn ông Lý di tham Việt Nam và “học những bài dầu tiên” về mở cửa và kinh tế thị truờng trực tiếp từ ông Lý.

Chuong XVII: Tam quyền không phân lập

Ngày 29-11-1991, khi phát biểu truớc Hội nghị Trung uong 2 bàn về sửa dổi hiến pháp, Tổng Bí thu Đỗ Muời nhấn mạnh: “Quyền lực nhà nuớc là thống nhất, không phân chia, nhung có phân công rành mạch”329. Đây là một thời diểm hiếm hoi mà Đảng Cộng sản Việt Nam roi vào tình thế hoàn toàn dộc lập vì chua biết lấy ai làm chỗ dựa330. Nhung cho dù don dộc, ý thức hệ chứ không phải là tuong lai dân tộc dã duợc lựa chọn. Hiến pháp 1992, vì thế, dã không tiếp cận

duợc những mô hình nhà nuớc tiến bộ dể trở thành nền tảng cho Việt Nam xây dựng nhà nuớc pháp quyền.

Nửa thế kỷ, bốn hiến pháp

Không phải tự nhiên mà Tổng Bí thu Đỗ Muời nhấn mạnh “quyền lực nhà nuớc là thống nhất”. Trên các diễn dàn góp ý dự thảo hiến pháp lúc bấy giờ bắt dầu xuất hiện khái niệm “tam quyền phân lập”, dồng thời có nhiều ý kiến dề nghị khôi phục tinh thần Hiến pháp 1946.

Cho dù Hiến pháp 1946 duợc mô tả nhu là “hiến pháp của Hồ Chí Minh”, việc khôi phục nó chua bao giờ duợc công khai dua ra331. Tuy không thiết kế một nhà nuớc hoàn toàn theo mô hình “tam quyền phân lập”, Hiến pháp 1946 dã không hề có bóng dáng của nhà nuớc Xô viết. Quyết tâm chính trị lớn nhất lúc dó của Đảng Cộng sản Việt Nam là kiên dịnh lập truờng xã hội chủ nghia.

Trên thực tế, chiến tranh nổ ra chỉ một tháng muời ngày sau khi Hiến pháp 1946 duợc Quốc hội thông qua. Bản Hiến pháp vì thế chua duợc công bố332 và cuộc tổng tuyển cử bầu Nghị viện Nhân dân chua duợc tiến hành. Quốc hội lập hiến dứng ra dóng vai trò của Nghị viện, xung là Quốc hội khóa I. Chính phủ Liên hiệp Lâm thời tiếp tục vai trò, nhung tất nhiên không còn các thành viên của Việt Cách và Việt Quốc333.

Sau Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Duong, nam 1951, Chính phủ Hồ Chí Minh bắt dầu thể hiện bản chất chính quyền của một nhà nuớc giai cấp thay vì chính quyền của các thành phần nhân dân nhu giai doạn tập hợp lực luợng ban dầu. Tinh thần của Hiến pháp 1946 dã hoàn toàn biến mất khi ngày 4-12-1953 Quốc hội “khóa I” ban hành Luật Cải cách ruộng dất, tuớc doạt ruộng dất của những nguời bị quy là dịa chủ, trái với Điều thứ 12: “Quyền tu hữu của công dân Việt Nam duợc bảo dảm”.

Quyền tự do ngôn luận mà Hiến pháp 1946 minh dịnh, và trên thực tế khi ấy dang duợc thi hành dựa trên chế dộ báo chí của chính quyền thực dân Pháp, cung bắt dầu bị hạn chế sau ngày 14-12-

1956, ngày Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh về Chế dộ báo chí. Những nguời còn lại trong Quốc hội duợc bầu tháng 1-1946 cung dã dua tay “khai tử” dứa con dáng tự hào nhất của mình. Nam 1959, Hiến pháp 1946 bị thay thế, bất chấp nguyên tắc sửa dổi Hiến pháp phải theo cách thức: “Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu; Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những diều thay dổi; Những diều thay dổi khi dã duợc Nghị viện ung chuẩn thì phải dua ra toàn dân phúc quyết”334.

Mặc dù Hồ Chí Minh dặt vấn dề xây dựng hiến pháp rất sớm335, Hiến pháp 1959 mới thực sự là hiến pháp của ông. Việc thay thế Hiến pháp 1946 chỉ thực sự duợc triển khai sau khi Hồ Chí Minh di dự Hội nghị các dảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế tổ chức vào tháng 11-

1957 tại Moscow, cùng ký “Tuyên bố chung” thừa nhận: “Kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Liên Xô trong công cuộc xây dựng chủ nghia xã hội và chủ nghia cộng sản có ý nghia nguyên tắc dối với toàn bộ phong trào cộng sản quốc tế”336.

Nhà nuớc “dân chủ cộng hòa, tất cả quyền bính trong nuớc là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”337 theo Hiến pháp 1946 dã duợc thay thế bằng một nhà nuớc “dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh dạo”338 theo Hiến pháp 1959.

Trong Lời nói dầu, Hiến pháp 1959 viết: “Nhân dân ta quyết tang cuờng hon nữa sự doàn kết nhất trí với các nuớc anh em trong phe xã hội chủ nghia dứng dầu là Liên Xô vi dại… Duới sự lãnh dạo sáng suốt của Đảng Lao dộng Việt Nam, Chính phủ nuớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh”339. Nếu nhu Hiến pháp 1946 nhấn mạnh dến bình dẳng và tự do của nguời dân thì Hiến pháp 1959 nhấn mạnh “trừng trị mọi hành dộng phản quốc, chống lại chế dộ dân chủ nhân dân, chống lại sự nghiệp thống nhất Tổ quốc”340. Công dân Việt Nam bắt dầu duợc khuyến cáo: “Không ai duợc lợi dụng các quyền tự do dân chủ dể xâm phạm dến lợi ích của Nhà nuớc”341.

Hiến pháp 1959 tồn tại hai muoi nam trong giai doạn miền Bắc dồn sức cho chiến tranh, ít ai có diều kiện dể quan tâm tới việc thực thi pháp luật. Sau chiến thắng nam 1975, sau khi “hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghia và xây dựng chủ nghia xã hội”342, tháng 7-1976, Quốc hội dổi tên nuớc từ “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” thành “Cộng hòa Xã hội Chủ nghia Việt Nam” và xác dịnh: “Nuớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghia Việt Nam cần có một bản hiến pháp thể chế hóa duờng lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai doạn mới. Đó là hiến pháp của thời kỳ quá dộ lên chủ nghia xã hội trong phạm vi cả nuớc”343. Ngôn từ trong van kiện Đại hội dại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam dã duợc dua thẳng vào Lời nói dầu của Hiến pháp 1980. Trong khi súng dạn dang nổ hàng ngày ở hai dầu biên cuong, ở hậu phuong, dân chúng lại bị hô hào “tiến hành dồng thời ba cuộc cách mạng”344.

Hiến pháp 1980 thực chất là một bản Hiến pháp 1959 nâng cao theo huớng “nhà nuớc chuyên chính vô sản”. Cách tiếp thu kinh nghiệm của các nuớc xã hội chủ nghia cung khá vội vàng. Ông Nguyễn Đình Lộc kể: “Khi Chủ tịch Truờng Chinh di nghiên cứu tại các nuớc Đông Âu, họ trình bày mô hình hội dồng nhà nuớc mà họ dang áp dụng nhu là một mô hình dầy tính uu việt. Mình về, bê gần nhu nguyên xi vào hiến pháp mới. Không ngờ, họ nói với mình vậy nhung chỉ sau dó không lâu họ sửa vì mô hình ấy nhập nhằng vai trò giữa quốc hội và nhà nuớc”345.

Hiến pháp 1980 trở thành một bản hiến pháp “doản mệnh”. Từ tháng 3-1989, Nghị quyết Hội nghị Trung uong 6, khóa VI, bắt dầu dặt vấn dề: “Cần rà soát lại các van bản pháp quyhiện hành (kể cả Hiến pháp), bổ sung và sửa dổi những diểm cần thiết theo tinh thần dổi mới”346. Ngày

30-6-1989, Nghị quyết Trung uong 6 dã duợc Quốc hội Khóa VIII triển khai với tinh thần cải cách cao hon: Sửa dổi Hiến pháp 1980 “một cách toàn diện”. Cung trong kỳ họp ấy, Quốc hội quyết dịnh thành lập Ủy ban Sửa dổi Hiến pháp, cử ông Võ Chí Công347 làm chủ tịch.

Quốc hội có vai trò hon

Cho dù vẫn bị “lãnh dạo” liên tục từ hậu truờng, ở thời diểm hình thành Hiến pháp 1992, Quốc hội Việt Nam bắt dầu có tiếng nói. Đây cung là một thành quả quan trọng của “dổi mới”. Trong nhiều thập niên truớc dó, Quốc hội Việt Nam chỉ tồn tại trên hình thức.

Quốc hội dầu tiên của nguời Việt Nam dã ra dời trong một hoàn cảnh khá là dặc biệt. Trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, 333 dại biểu quốc hội dã duợc bầu từ hàng ngàn ứng cử viên. Tuy Việt Minh kiểm soát chặt chẽ tiến trình bầu cử nhung việc cho ứng cử tự do dã giúp cho cuộc bầu cử mang một hình ảnh dân chủ348. Tại các don vị bầu cử, số luợng ứng cử viên dông hon gấp nhiều lần số dại biểu duợc bầu. Tỉnh Quảng Nam duợc bầu muời lam dại biểu nhung có tới bảy muoi tám ứng cử viên. Ở Hà Nội, noi Hồ Chí Minh ứng cử, duợc bầu sáu dại biểu nhung có tới bảy muoi bốn nguời ra ứng cử.

Về danh nghia, dây là một cuộc bầu cử da dảng. Tuy nhiên, những nguời trúng cử dều thuộc thành phần Việt Minh, hoặc các cảm tình viên của Việt Minh và những nguời duợc Hồ Chí Minh dua vào các dảng duợc lập ra theo chủ truong của ông349.

Truớc dó, vào tháng 9-1945, cùng với hai muoi vạn quân Trung Hoa Dân quốc do tuớng Lu Hán và Tiêu Van chỉ huy sang Việt Nam với danh nghia giải giáp quân dội Nhật, tổ chức Việt Nam

Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Cách) do nhà cách mạng Nguyễn Hải Thần lãnh dạo cung theo về350. Truớc sức ép của Tiêu Van và Lu Hán, con nguời “di bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí

Minh dã lấn át nguyên tắc “thần linh pháp quyền” mà ông cùng tuyên bố trong “Việt Nam yêu cầu ca”. Ngày 24-12-1945, trong Hội nghị liên tịch dảng phái, Hồ Chí Minh dã dồng ý dành nam muoi ghế dại biểu Quốc hội cho Việt Quốc, hai muoi ghế cho Việt Cách.

Ông Vu Đình Hòe nhận xét: “Bổ sung bảy muoi ghế Quốc hội mà không thông qua tuyển cử bổ sung thì thật là trái nguợc với các van bản Nhà nuớc về bầu cử Quốc hội. Pháp chế dân chủ không cho phép làm nhu vậy”351. Theo ông Vu Đình Hòe: “Bác Hồ có hỏi ý kiến tôi và Phan Anh về khía cạnh kỹ thuật, pháp lý, chúng tôi trả lời, dể dảm bảo tôn trọng nguyên tắc dân chủ: Quốc hội quyết dịnh tất cả”352. Thế là truớc phiên họp dầu tiên của Quốc hội, bảy muoi dại biểu không qua bầu cử này dứngbên ngoài chờ Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo và xin Quốc hội chuẩn y. Các dại biểu Việt Minh duong nhiên tán thành lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bảy muoi dại biểu Việt Quốc, Việt cách duợc mời vào Hội truờng, Quốc hội vỗ tay hoan nghênh. Về sau họ duợc gọi là dại biểu “truy nhận”.

Tuy nhiên, khối doàn kết dân tộc không thiết lập trên nền tảng “pháp chế dân chủ” thì cung không tồn tại lâu bền. Tháng 7-1946, tranh chấp gay gắt giữa Việt Minh và các phe phái dối lập diễn ra. Các co sở của các dảng phái dối lập, dặc biệt là của Việt Cách, bị Việt Minh tấn công, nhiều dại biểu của Việt Cách bị bắt. Nguyễn Hải Thần cùng nhiều dồng chí khác của ông trong Việt Cách, cùng Vu Hồng Khanh, Nguyễn Tuờng Tam và nhiều “dại biểu” Việt Quốc khác dã phải bỏ trốn, nhiều nguời phải quay trở lại Trung Quốc. Trong số nam muoi dại biểu “truynhận” của Việt Quốc về sau chỉ có Trần Van Cầu duợc công nhận là “dủ tu cách dại biểu Quốc hội”. Trong số hai muoi dại biểu của Việt Cách chỉ có sáu dại biểu: Lê Viết Cuong, Đinh Chuong Duong, Lý Đào, Ngô Van Hợp, Nguyễn Van Luu, Trần Tấn Thọ, duợc công nhận “dủ tu cách”. Số còn lại dã bị Quốc hội truất quyền dại biểu353.

Trong số 403 dại biểu duợc công nhận trong kỳ họp dầu tiên vào ngày 2-3-1946, dến giữa nam 1946 chỉ còn 291 nguời, và tháng 11-1946 khi bỏ phiếu thông qua Hiến pháp 1946, Quốc hội chỉ còn lại 242 nguời. Quốc hội duợc bầu ngày 6-1-1946, theo tinh thần của Hiến pháp 1946, chỉ là một quốc hội lập hiến. Tuy nhiên, lấy lý do chiến tranh, Hiến pháp

1946 dã không duợc công bố, “Nghị viện Nhân dân” dã không duợc bầu dể thay thế. Quốc hội lập hiến, kể từ sau Hiến pháp 1959, duợc gọi là Quốc hội Khóa I.

Tập hợp duợc một dội ngu trí thức tiêu biểu, từng thông qua bản Hiến pháp 1946 danh tiếng, nhung trong suốt sáu nam dầu, Quốc hội gần nhu không hoạt dộng. Để rồi sau dó bắt dầu di

nguợc lại những gì thiêng liêng mà các dại biểu dã từng gửi gắm trong Hiến pháp 1946: Từ ngày

1-12 dến ngày 4-12-1953, các dại biểu có mặt ở Việt Bắc duợc nhóm họp dể hợp thức hóa cuộc “dấu tranh giai cấp” của Đảng bằng việc thông qua Luật Cải cách ruộng dất354. Từ nam 1954, sau khi phê chuẩn Hiệp dịnh Geneva, chia hai Việt Nam ở Vi tuyến 17, Quốc hội Khóa I trở thành Quốc hội của Nhà nuớc nắm quyền trên miền Bắc355.

Cung nhu Xô viết Tối cao của Liên Xô hay Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc của Trung Quốc, cho dù Hiến pháp vẫn ghi những quyền hành long trọng, Quốc hội Việt Nam, từ khóa II, chủ yếu thực hiện ba chức nang: Thể chế hóa hay nói chính xác hon là hợp thức hóa duờng lối chủ truong của Đảng – chức nang mà Hiến pháp gọi là “lập pháp”; trình diễn sự ủng hộ nhân danh “của dân” dối với Đảng và Chính phủ356; trình diễn khối dại doàn kết toàn dân. Ngoài những dạo luật co cấu lại mô hình nhà nuớc theo Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 mà Quốc hội Khóa II và Khóa VII phải làm, từ dầu thập niên 1960 cho dến cuối thập niên 1980 quyền lực công duợc vận hành chủ yếu theo mô hình nhà nuớc Đảng. Quốc hội có rất ít việc phải “hợp thức hóa”. Các chỉ thị, nghị quyết gần nhu có hiệu lực thi hành ngay sau khi duợc Đảng ban

hành357.

Chức nang quan trọng nhất của Quốc hội là nhất trí. Từ khóa VII trở về truớc, Quốc hội thuờng chỉ họp mỗi nam một lần, mỗi lần chỉ kéo dài từ ba dến bốn ngày. Do tính long trọng của Quốc hội thống nhất, kỳ họp thứ nhất của khóa VI mới kéo dài chín ngày; kỳ họp thứ nhất của khóa VII kéo dài muời ngày. Quốc hội Việt Nam cung có hình thức họp tổ – bao gồm một số doàn dại biểu – nhu Xô viết Liên Xô. Ở Quốc hội Việt Nam, thảo luận tổ lúc dầu chủ yếu giúp phát hiện những ý kiến khác với “tinh thần lãnh dạo” dể mà “chấn chỉnh”. Ở Xô viết Liên Xô thời Stalin, những nguời phát biểu nhu thế có thể bị thanh trừng. Những ai duợc chọn phát biểu trong các phiên họp toàn thể dều phải gửi tham luận truớc cho Van phòng, Tổng Thu ký Quốc hội sẽ dọc duyệt, nhằm dảm bảo không dể xuất hiện trên Hội truờng những ý kiến “lệch lạc”.

Chức nang trình diễn khối doàn kết toàn dân duợc thể hiện cả bằng xuong, bằng thịt: công, nông, binh, dân tộc358. Công nhân, nông dân co cấu trong Quốc hội từ khóa VIII trở về truớc là theo nghia den. Có dại biểu Quốc hội là thợ rèn, thợ tiện. Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh còn có dại biểu là một nữ công nhân quét rác. Ông Hồ Giáo, một nguời chan bò nổi tiếng, duợc dua vào ngồi trong Quốc hội tới ba khóa liền (IV, V, VI). Ông Giáo thừa nhận, vốn ít học và những nam ấy vẫn dộc thân, nên ông dồn tất cả tình cảm, tâm trí và sức lực cho những con bò mà ông yêu

quý. Những lần di dự họp Quốc hội, theo ông Hồ Giáo, ông phải rất gắng guợng, mỗi khi Quốc hội cần ông lên diễn dàn phát biểu dể chụp hình, có nguời sẽ viết sẵn cho ông bài phát biểu. Sự chuyển dộng của Quốc hội – từ vai trò trang trí cho chế dộ dến chỗ trở thành một diễn dàn, noi các dại biểu có thể bày tỏ khát khao quyền lực – không nằm ngoài ảnh huởng của những chính sách dổi mới trong Đảng, nhung bản linh của từng cá nhân lãnh dạo Quốc hội dã dóng một vai trò quyết dịnh.

Từ khóa VII, tuy bầu không khí chính trị vẫn rất chuyên chính, và chức vụ chủ tịch Quốc hội cung không có nhiều quyền lực cả trên thực tế và lý thuyết, Luật su Nguyễn Hữu Thọ359 dã làm duợc một cuộc “cách mạng hình thức” cho Quốc hội. Ngày 24-6-1981, khi nắm quyền diều khiển kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VII, Luật su Nguyễn Hữu Thọ dã mời các ủy viên Bộ Chính trị, những nguời trong các nhiệm kỳ truớc vẫn ngự trị trên các dãy ghế Chủ tịch Đoàn, rời khỏi lễ dài. Quyền chủ trì các phiên họp Quốc hội, từ hôm dó, duợc trả lại cho chủ tịch và các phó chủ tịch Quốc hội.

“Cuộc cách mạng” này về sau dã không chỉ tạo ra sự thay dổi về mặt hình thức. Ngay trong nhiệm kỳ thứ VII, tại kỳ họp thứ 10 vào cuối nam 1985, Đại biểu Đào Thị Biểu, tỉnh ủy viên Tỉnh Cửu Long, thay vì dọc bản tham luận duợc “duyệt” truớc, dã “rút từ lung quần” ra một bài phát biểu khác, nêu dích danh những cá nhân mà theo bà, phải “chịu trách nhiệm truớc nhân dân” trong vụ “giá – luong – tiền”. Sau tham luận về những sai lầm trong cải cách ruộng dất của Luật su Nguyễn Mạnh Tuờng dọc tại Trung uong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bản tham luận của bà Đào Thị Biểu dã dua “sóng gió” nghị truờng trở lại.

Dù vậy, Quốc hội chỉ bắt dầu trở thành một diễn dàn kể từ khóa VIII, duợc bầu vào ngày 19-4-

1987, gần bốn tháng sau Đại hội Đảng lần thứ VI. Ở kỳ họp thứ nhất, Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh dã làm không ít dồng chí của ông ngạc nhiên khi dua bà Ngô Bá Thành360 lên làm chủ nghiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội. Chức danh chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội duợc xếp ngạch tuong duong hàm bộ truởng, và bà Thành trở thành nguời dầu tiên từng cộng tác với chế dộ Sài Gòn dạt duợc vị trí này361. Sự kiện ba muoi ba doàn dại biểu Quốc hội, da số là các doàn miền Nam, giới thiệu ông Võ Van Kiệt ra tranh cử chức chủ tịch Hội dồng Bộ truởng với ông Đỗ Muời (tháng 6-1988) dù không trở thành một tiền lệ vẫn cho thấy các dại biểu dã không còn dến Hội truờng Ba Đình dể chỉ gio tay nhu truớc.

Chủ tịch Lê Quang Đạo362 dã dóng một vai trò quan trọng trong những buớc dân chủ hóa dầu tiên của Quốc hội. Ông Lê Quang Đạo vốn là trung tuớng, phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nhung khi trở thành chủ tịch, ông dã diều hành các phiên họp Quốc hội một cách mềm mỏng và uyển chuyển. Thay vì dứng trên Quốc hội theo thứ bậc trong Đảng, bằng sự trung thực và lịch lãm của một nhà cách mạng, ông Đạo giúp các dại biểu có cảm giác an toàn khi dua ra ý kiến của mình. Cách diều khiển phiên họp của ông Lê Quang Đạo dã tạo ra dột phá trong sinh hoạt nghị truờng, thu hút duợc sự chú ý của công chúng vào Quốc hội.

Lịch sử chất vấn chắc chắn phải duợc dánh dấu bởi sự kiện ngày 20-12-1991, ngày làm việc trên hội truờng của kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá VIII. Hôm dó, sau khi dọc xong một bản báo cáo, Bộ truởng Tài chính Hoàng Quy dã dịnh xách cặp di xuống, nhung Chủ tịch Lê Quang Đạo yêu cầu ông dứng lại. Cả hội truờng xôn xao. Hàng chục dại biểu dua tay xin dặt câu hỏi. Cuộc chất vấn trực tiếp dầu tiên của Quốc hội Việt Nam xã hội chủ nghia dã diễn ra nhu vậy suốt hai giờ liền.

Sự xuất hiện của ông Vu Mão vào nam 1987 với vai trò chủ nhiệm Van phòng Quốc hội và Hội dồng Nhà nuớc cung dã tạo ra những thay dổi không nhỏ trong co quan này363. Những dóng góp làm thay dổi Quốc hội của ông Vu Mão thuờng bắt dầu từ bản tính thích tìm tòi cái mới của ông. Truớc dây, khi Quốc hội biểu quyết “quyết dịnh những vấn dề lớn của dất nuớc”, chủ tịch doàn kỳ họp chỉ cần hỏi “ai dồng ý gio tay?” là lập tức cả hội truờng gio tay; rồi chủ tịch doàn lại hỏi “ai không dồng ý gio tay?” là có thể tuyên bố “một tram phần tram” ngay. Nhung vào cuối thập niên 1980, khi Quốc hội phải biểu quyết việc chia lại dịa giới hành chính của các tỉnh, có những phiên biểu quyết hàng tram nguời gio tay “không dồng ý”. Truởng doàn thu ký, luôn là ông Vu Mão, không còn nhàn hạ hô “tram phần tram” nữa.

Nam 1989, ông Mão quyết dịnh dặt hàng bên quân dội thiết kế cho Quốc hội máy dếm khi biểu quyết. Chiếc máy dếm dầu tiên mà Quốc hội Việt Nam sử dụng chỉ có hai nút, “dồng ý” và “không dồng ý”. Những con số tang, giảm, ngập ngừng trên bảng diện dã tạo thêm kịch tính cho hoạt dộng Quốc hội. Đầu thập niên 1990 tranh luận xuất hiện thuờng xuyên hon trên diễn dàn, nhất là thời gian Quốc hội thông qua hiến pháp364.

Cung thời gian dó, khi tham Nghị viện Đài Loan, ông Vu Mão “phát hiện” máy dếm của họ có ba nút: “dồng ý”, “không dồng ý”và “không biểu quyết”. Theo ông Nguyễn Sỹ Dung nguời tháp tùng ông Mão trong chuyến di này, ông Vu Mão quyết dịnh thiết kế máy biểu quyết mới “theo

chuẩn quốc tế”. Nhung trên ông Vu Mão lúc dó còn có một chức danh trung gian: tổng thu ký Quốc hội và Hội dồng Nhà nuớc. Nắm chức vụ này lúc bấy giờ là ông Nguyễn Việt Dung, một con nguời cực kỳ nguyên tắc365. Truớc một chuyến công tác, ông Vu Mão giao cho Thu ký Nguyễn Sỹ Dung phải thuyết phục ông Nguyễn Việt Dung.

Thay vì gặp tổng thu ký, ông Sỹ Dung thảo một tờ trình dể một phó chủ nhiệm Van phòng ký dua thẳng lên chủ tịch Quốc hội. Ông Lê Quang Đạo nhất trí liền. Nhung dể lệnh của chủ tịch có thể thi hành, vẫn phải qua tổng thu ký. Ông Sỹ Dung lại phải di gặp ông Việt Dung. Vừa nghe tới cái nút thứ ba, “không biểu quyết”, ông Việt Dung nói: “Không duợc, dã là dảng viên thì chính kiến phải rõ ràng”. Ông Sỹ Dung thuyết phục: “Không nên dẩy những nguời dang cân nhắc vào thế phải ủng hộ hay chống. Cháu vẫn cho rằng những nguời không biểu quyết vẫn tích cực hon là chống ạ”. Ông Việt Dung: “Mày mới về dây, biết gì”. Ông Sỹ Dung dành nói thẳng: “Thua bác, Chủ tịch Lê Quang Đạo dã dồng ý rồi”. Phàm là những nguời nguyên tắc thì nguyên tắc quan trọng nhất mà họ tuân thủ là cấp trên, nghe tới dó, ông Việt Dung nói: “Chủ tịch dã dồng ý thì cứ thế mà làm”.

Khi mới về Van phòng, ông Nguyễn Sỹ Dung tìm thấy trong dống thu từ có một bức thu của Liên minh Quốc hội Thế giới gửi cho quốc hội các nuớc giới thiệu chuong trình tài trợ giúp “nâng cao nang lực các thiết chế dân chủ”366. Nguyễn Sỹ Dung xin phép ông Vu Mão cho “mở rộng hợp tác quốc tế”, ông Vu Mão dồng ý. Ông Dung soạn một lá thu dứng tên bà Nguyễn Thị Bình, chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội. Bức thu duợc bà Bình ký gửi di. Mấy tháng sau, Liên minh Quốc hội Thế giới cử ông Martin Chungong, một chuyên gia nguời châu Phi tới Việt

Nam.

Chuong trình hợp tác dầu tiên ký với tổ chức này dã giúp Van phòng Quốc hội lập mạng máy tính và lắp dặt phần mềm ghi tốc ký biên bản. Quốc hội trở thành co quan nhà nuớc dầu tiên sử dụng máy tính ở Việt Nam, và kể từ lúc dó, từng lời phát biểu trên hội truờng của các dại biểu duợc ghi lại và luu trữ. Từ nam 1993, Van phòng Quốc hội bắt dầu tiếp nhận sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế thông qua các hoạt dộng hợp tác: dự án nâng cao nang lực các thiết chế dân chủ của

Liên minh Quốc hội Thế giới, các dự án nâng cao nang lực thể chế của UNDP, dự án hỗ trợ các co quan dân cử của Đan Mạch, dự án phát triển thông tin công chúng và nang lực giám sát của Thụy Điển367.

Tiến trình nàydã ảnh huởng sâu sắc tới Quốc hội Việt Nam. Toàn bộ các khái niệm truyền thống và hiện dại về nghị viện, về thông tin công chúng, kiến thức chuyên sâu về công cụ và hiệu nang giám sát của Quốc hội, kiến thức can bản về lập pháp, về nhà nuớc pháp quyền, chức nang dại biểu… dã dến với Quốc hội Việt Nam thông qua các dự án hợp tác quốc tế368.

Cuộc chất vấn trực tiếp (Bộ truởng Tài chính Hoàng Quy) diễn ra ngày 20-12-1991 sẽ không thu hút sự chú ý của công chúng nhu thế nếu ngay sau dó không duợc tờ Tuổi Trẻ tuờng thuật chi tiết. Phản ứng của bạn dọc với những bài tuờng thuật Quốc hội, bắt dầu trên Tuổi Trẻ, dã khiến cho báo chí thay dổi cách tiếp cận các sự kiện diễn ra ở Hà Nội. Thay vì dùng những bản tin công thức của Thông tấn xã hoặc của báo Nhân Dân, các báo – dặc biệt là báo chí Sài Gòn – bắt dầu gửi phóng viên về Thủ dô. Chính trị không còn là một dề tài tẻ nhạt, số luợng phát hành của những tờ báo nhu Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Nguời Lao Động… dã tang rõ rệt mỗi kỳ Quốc hội họp.

Nhung báo chí chỉ thực sự khiến cho Quốc hội tạo duợc ảnh huởng trong dời sống chính trị của Việt Nam khi các phiên chất vấn và sau dó là các phiên thảo luận về tình hình kinh tế xã hội bắt dầu duợc truyền hình trực tiếp. Ý tuởng truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn duợc ông Vu Mão dề xuất áp dụng vào nam 1998. Ủy ban Thuờng vụ Quốc hội sau khi thảo luận dã dồng ý với dề nghị này.

Ở thời diểm ấy, dó là một sáng kiến chính trị táo bạo. Thuờng vụ quyết dịnh phải báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị. Sau khi cân nhắc, Bộ Chính trị chấp nhận. Tuy nhiên, khi dảng doàn Quốc hội họp với Ban Cán sự Đảng của Chính phủ dể chính thức triển khai, Ban Cán sự Đảng của Chính phủ dã không dồng ý. Cận ngày chất vấn, việc truyền hình trực tiếp hay không vẫn còn ý kiến dôi co. Tuy nhiên, ông Vu Mão vẫn triển khai kế hoạch với Đài Truyền hình Trung uong.

Sự việc có nguy co bất thành khi ông truởng Ban Van hóa – Tu tuởng Trung uong gặp ông An Duyệt, phó Ban Thời sự VTV, nói: “Không nên! Truyền hình trực tiếp chất vấn và trực tiếp trả lời chất vấn dễ làm lộ bí mật và dễ làm mất uy tín cán bộ lãnh dạo”. An Duyệt, nguời phụ trách nhóm làm truyền hình trực tiếp, vội vàng chạy dến gặp ông Mão, truởng doàn thu ký kỳ họp. Vu Mão kiên quyết: “Tôi nói với các bạn là Bộ Chính trị dã cho phép, cứ làm”. Nhung sau dó ông truởng Ban Tu tuởng – Van hóa vẫn giữ thái dộ kiên quyết với ông An Duyệt: “Đã nói rồi, các cậu làm mà xảyra chuyện gì thì các cậu phải chịu trách nhiệm”. Trua hôm dó, ông Vu Mão cùng An Duyệt phải dến xin ý kiến Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh và Thủ tuớng Phan Van Khải.

Cả Thủ tuớng lẫn Chủ tịch Quốc hội dều e ngại. Chủ tịch Nông Đức Mạnh nói: “Hay là Đài Truyền hình vẫn cứ ghi hình toàn bộ phiên chất vấn, sau dó rà lại, bỏ bớt những chỗ gay cấn, phức tạp, dến tối mới dua lên dể nhân dân xem”. Ông Vu Mão trấn an: “Mọi việc dã duợc chuẩn bị chu dáo, với lại, việc truyền hình trực tiếp dã duợc thông báo rộng rãi, nhân dân dang chờ, sẽ khó giải thích nếu không có lý do gì mà việc truyền hình trực tiếp lại không duợc thực hiện”. Ông Mạnh im lặng, ông Vu Mão yêu cầu ông An Duyệt tiến hành. Từ ngày14-5-1998, các phiên chất vấn của Quốc hội dều duợc Đài Truyền hình Việt Nam truyền hình trực tiếp.

Nguời nhận duợc nhiều lợi ích chính trị nhất từ hoạt dộng này không phải là ông Vu Mão mà chính là Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh. Đóng góp lớn nhất của ông Nông Đức Mạnh nằm ở chỗ ông không dủ sức dể cản trở các sáng kiến cải cách. Khi diều khiển các phiên họp, ông Mạnh cung không tham gia vào nội dung và không ngắt lời các dại biểu. Không khí tranh luận, vì thế, diễn ra có vẻ dân chủ hon. Ông Mạnh dã diều hành nghị truờng Việt Nam giống nhu một nguời phát ngôn (speaker) trong quốc hội của quốc gia dân chủ. Hình ảnh ông Mạnh, tóc tai chải chuốt, an nói mềm mỏng và dôi khi dột nhiên lóe sáng369 truớc ống kính truyền hình dần dần duợc công chúng thừa nhận nhu là một nhà lãnh dạo.

Nguời kế nhiệm, ông Nguyễn Van An, thì hoàn toàn nguợc lại. Ông Nguyễn Van An ý thức khá rõ vai trò của truyền hình. Ông là nhà lãnh dạo cấp cao dầu tiên của Việt Nam sử dụng email và thuờng xuyên truycập thông tin trên internet. Các phiên chất vấn mà ông An chủ trì trở nên cang thẳng hon vì ông thuờng can thiệp vào nội dung, dôi khi tỏ thái dộ gay gắt với các bộ truởng.

Cuối các phiên chất vấn, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Van An dều có một van bản kết luận, dánh giá trả lời chất vấn của các thành viên Chính phủ. Chủ tịch nghị viện của các quốc gia dân chủ không diều hành quốc hội theo cách của ông Nguyễn Van An, nhung ở Việt Nam thì có vẻ nhu ông dã thành công. Cách diều hành của ông An làm cho chủ tịch Quốc hội trở nên quyền lực hon. Các thành viên chính phủ ý thức duợc sinh mệnh chính trị của họ có thể bị lung lay nếu ông An muốn.

Trong nam dầu nhiệm kỳ của ông Nguyễn Van An, tháng 11-2001, Quốc hội dã sửa dổi Luật Tổ chức Quốc hội, trong dó có dề cập dến quyền bỏ phiếu tín nhiệm “những nguời giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” nhu chủ tịch nuớc, thủ tuớng, viện truởng Viện Kiểm sát Tối cao, chánh án Tòa án Tối cao và các bộ truởng. Nhung quy trình duợc thiết kế trong Luật dã khiến cho quyền này không thể thực hiện370.

Sau Hiến pháp 1992, mô hình “Nhà nuớc Đảng” dã không còn vận hành một cách công khai. Quyền lực thực tế lặng lẽ lùi vào phía sau, Quốc hội trở thành noi bộc lộ những xung dột và dôi khi trở thành công cụ giải quyết xung dột quyền lực của các bên. Việc tiếp cận với các khái niệm phổ quát và nhận thức duợc vai trò chung của nghị viện cung làm thay dổi nhận thức của một số cá nhân, nhất là khi trong Quốc hội bắt dầu có nhiều nguời chuyên trách.

Khái niệm “quốc hội chuyên nghiệp” duợc Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh dặt ra truớc và trong thời gian thảo luận Hiến pháp 1992 một cách công khai371. Nhu các dề nghị về “tam quyền phân lập” hay cho tu nhân sở hữu dất dai, ý tuởng chuyên nghiệp hóa quốc hội dã không duợc chấp nhận372.

Tháng 4-1992, khi thông qua Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc hội khóa VIII dã dua vấn dề chuyên trách vào Luật một cách dè dặt: “Trong số các dại biểu Quốc hội, có những dại biểu làm việc theo chế dộ chuyên trách và có những dại biểu làm việc theo chế dộ không chuyên trách. Số luợng dại biểu Quốc hội làm việc chuyên trách do Quốc hội quyết dịnh”. Số luợng dại biểu chuyên trách làm việc thuờng xuyên ở 35 Ngô Quyền từ dó chỉ tang lên nhỏ giọt373.

Tháng 8-1999, Ban Chấp hành Trung uong Đảng khóa VIII họp lần thứ 7, dua vào Nghị quyết một câu ngắn trong phần nói về tổ chức bộ máy của Quốc hội: “Từng buớc tang tỷ lệ dại biểu Quốc hội chuyên trách”. Nam 2001, tại kỳ họp thứ 10, Luật Tổ chức Quốc hội duợc sửa, theo dó: “Số luợng dại biểu Quốc hội hoạt dộng chuyên trách có ít nhất là 25% tổng số dại biểu”374.

Chủ truong co cấu 25% dại biểu chuyên trách, dã làm thay dổi không ít số phận cán bộ. Tiến si Trịnh Huy Quách, khi dang làm thu ký cho Chủ tịch Nông Đức Mạnh, thuờng vẫn di từ nhà riêng ở phía Hồ Tây dến 35 Ngô Quyền bằng xe dạp. Ngày 31-7-2002, ông duợc bầu làm phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách. Từ cán bộ có hàm cấp vụ lên cấp thứ truởng, từ sáng sớm ngày 1-8-2002, truớc nhà ông Quách bắt dầu có một chiếc xe hoi mang biển xanh 80B dậu chờ dua ruớc. Tuy nhiên, với những cán bộ dang ở các vị trí quyền lực thì việc bị dua sang làm chuyên trách Quốc hội cung giống nhu bị dặt vào thế “dự bị huu” trừ khi họ ý thức duợc tầm quan trọng của vai trò mới.

Đại biểu chuyên trách Nguyễn Minh Thuyết dã di vào lịch sử giám sát của Quốc hội khi ngày 1- 11-2010 công khai dua ra dề nghị thành lập ủy ban dộc lập diều tra dể bỏ phiếu tín nhiệm thủ tuớng375. Nếu nhu câu chuyện của bà Đào Thị Biểu chỉ duợc nhắc lại sau hàng chục nam, thì dề nghị của ông Nguyễn Minh Thuyết ngay lập tức duợc truyền hình trực tiếp. Cho dù dề nghị của

ông bị bác376, ảnh huởng chính trị của nó có sức lan tỏa ngay. Nhung những dại biểu nhu Giáo su Nguyễn Minh Thuyết ngay sau dó dã không duợc co cấu lại. Sau mỗi nhiệm kỳ, chỉ có trên duới 30% số dại biểu duong nhiệm duợc Đảng phân công ra ứng cử. Nguyên tắc một nguời không giữ một chức vụ quá hai nhiệm kỳ lẽ ra chỉ áp dụng cho các chức danh hành pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam dã áp dụng cho cả những cán bộ dân cử có thể dẫn sự dổi mới của Quốc hội di “quá dà”.

Nhiều dại biểu, dầu nhiệm kỳ chua biết nghị truờng là gì, cuối nhiệm kỳbắt dầu quen việc và có tiếng nói dộc lập thì không còn duợc ra ứng cử nữa. Thất thoát thể chế rất lớn. Cứ mỗi dầu nhiệm kỳ, Quốc hội lại phải tổ chức các lớp dạy các ông nghị cách làm dại biểu trong khi những dại biểu rành rẽ công việc lập pháp và giám sát thì bị loại dần ra khỏi nghị truờng.

Thủ tuớng và “nguời dứng dầu”

Tháng 8-1991, ông Võ Van Kiệt duợc bầu giữ chức chủ tịch Hội dồng Bộ truởng. Chính phủ của ông khi ấy vẫn hình thành dựa trên nguyên tắc của Hiến pháp 1980. Nhung, thay vì giữ sáu phó chủ tịch Hội dồng Bộ truởng nhu kế thừa, ông Kiệt chỉ dề cử ba phó chủ tịch377.

Ngay sau khi duợc Quốc hội bầu, chiều ngày 9-8-1991, ông Võ Van Kiệt giải thích: “Đây là huớng dổi mới về tổ chức nhà nuớc nói chung và tổ chức chính phủ nói riêng. Hội dồng Bộ truởng bớt các phó chủ tịch, bộ bớt các thứ truởng, ban bớt các phó ban… dể làm sao tập trung trách nhiệm của nguời dứng dầu”378. Đây là mô hình mà theo ông Kiệt sẽ từng buớc duợc áp dụng ở các dịa phuong379. Lúc ấy, ông Kiệt tỏ ra rất lạc quan: “Một khi dã phân dịnh rõ quản lý nhà nuớc bằng pháp luật, phân dịnh rõ trách nhiệm của trung uong, dịa phuong thì số cấp phó không chỉ là ba mà có khi chỉ cần một là dủ”380.

Ông Võ Van Kiệt dã hình thành bộ máy “Hội dồng Bộ truởng” theo phuong án chính phủ mà thủ tuớng có vai trò nhu nguời dứng dầu, trong khi ở thời diểm ấy Ban Soạn thảo Hiến pháp vẫn thiết kế mô hình nhà nuớc với nhiều phuong án.

Dự thảo I dã từng thiết kế dịnh chế chủ tịch nuớc với những quyền hạn gần nhu chủ tịch nuớc theo Hiến pháp 1946. Quốc hội theo Dự thảo này không có co quan thuờng vụ – hội dồng nhà nuớc, doàn chủ tịch hay ủy ban thuờng vụ. Dự thảo I cung quy dịnh rõ luợng dại biểu chuyên trách ở Hội dồng Dân tộc là 1/3, ở các ủy ban là 1/2; bỏ hội dồng nhân dân ở các quận, huyện, phuờng và thị xã. Tháng 5-1991, Dự thảo I duợc dua ra lấy ý kiến cán bộ trung, cao cấp. Tuy

phuong án nguyên thủ một nguời không bị bác hẳn, nhung, trong Dự thảo II, duợc Chủ tịch Hội dồng Nhà nuớc Võ Chí Công trình bày ngày 27-7-1991 truớc kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khóa VIII, Ban Soạn thảo dã phải dua thêm phuong án nguyên thủ tập thể: doàn chủ tịch quốc hội.

Quốc hội dã dành trọn ngày 1-8-1991 dể thảo luận về Dự thảo II. Chỉ có bốn ý kiến dồng ý với phuong án II vì cho rằng không nên tập trung quyền vào tay một nguời, trong khi tám ý kiến khác phát biểu trong phiên họp toàn thể dều tán duong phuong án I. Các dại biểu cho rằng co chế tập thể duợc áp dụng quá nhiều, dã có Quốc hội giám sát nên không lo cá nhân lạm quyền381. Phuong án lập chính phủ thay cho Hội dồng Bộ truởng duợc ủng hộ cao, nhiều dại biểu còn dề nghị tang cuờng trung uong tập quyền bằng cách dể thủ tuớng bổ nhiệm chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh thành, chủ tịch cấp trên bổ nhiệm chủ tịch ủy ban cấp duới.

Ngày 29-11-1991, tại Hội nghị Trung uong 2, Ủy ban Sửa dổi Hiến pháp kiến nghị lập thiết chế chính phủ và thủ tuớng chính phủ thay cho hội dồng bộ truởng. Hiến pháp trao cho thủ tuớng dủ quyền hạn dể thực thi nhiệm vụ, trong dó có quyền lựa chọn bộ truởng dề nghị Quốc hội phê chuẩn, bổ nhiệm nguời dứng dầu co quan hành chính cấp duới trực tiếp theo dề nghị của hội dồng nhân dân cùng cấp, và thống nhất diều hành bộ máy hành chính nhà nuớc thông suốt từ trung uong dến co sở.

Hội nghị Trung uong 2 dã dồng ý với dề nghị này của Ủy ban Sửa dổi Hiến pháp nên trong bản Dự thảo III công bố lấy “ý kiến nhân dân” ngày 30-12-1991, phuong án chính phủ dã duợc dua ra dể thay thế hội dồng bộ truởng, thủ tuớng duợc dự kiến trao cho nhiều quyền hon. Quốc hội chỉ bầu thủ tuớng còn các phó thủ tuớng và bộ truởng thì quốc hội không bầu mà phê chuẩn theo dề nghị của thủ tuớng. Thủ tuớng còn có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm các thứ truởng, bổ nhiệm miễn nhiệm và diều dộng chủ tịch, các phó chủ tịch ủy ban hành chính cấp tỉnh, thành. Hội dồng nhân dân các cấp chỉ còn là co quan dại biểu của dân thay vì là co quan quyền lực cao nhất tại dịa phuong…

Trong Dự thảo IV duợc Ủy ban Sửa dổi Hiến pháp gửi tới các dại biểu Quốc hội vào ngày 14-3-

1992, dịnh chế chủ tịch nuớc dã duợc dua vào phuong án chính thức, trong khi, quốc hội có một co quan thuờng trực là ủy ban thuờng vụ. Định chế hội dồng nhà nuớc vẫn duợc dua vào nhu một phuong án phụ dể Quốc hội thảo luận. Mô hình chính phủ và quyền hạn của thủ tuớng duợc giữ nhu Dự thảo III nhung thủ tuớng chỉ phê chuẩn kết quả bầu chủ tịch ủy ban tỉnh thành của hội dồng nhân dân thay vì bổ nhiệm. Đây là phuong án dã duợc dua vào hiến pháp. Mô hình

chính phủ còn tiếp tục duợc diều chỉnh chỉ một thời gian ngắn sau khi Hiến pháp 1992 có hiệu lực382.

Các co quan chính phủ thời Thủ tuớng Võ Van Kiệt và Thủ tuớng Phan Van Khải dều duợc chuyển dần từ vai trò co quan chủ quản, trông coi sản xuất kinh doanh của khối quốc doanh, sang vai trò quản lý nhà nuớc với tất cả các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, cả hai ông dều chua tách bạch duợc chức nang hành pháp chính trị với hành chính công vụ. Cải cách hành chính vì thế không thể di tới tận cùng, bộ máycác bộ ngành tuy có sắp xếp lại, có giảm về dầu mối vẫn cứ lần luợt phình ra383.

Biên chế tang một phần là do kinh tế phát triển, nhu cầu hành chính trong xã hội tang, nhung chủ yếu do các bộ ngành vẫn bám giữ các dặc quyền nhà nuớc thông qua việc duy trì các thủ tục. Cho dù xây dựng kinh tế thị truờng, mối quan hệ giữa các co quan hành chính nhà nuớc với nguời dân và doanh nghiệp vẫn là mối quan hệ “xin – cho”.

Chia tỉnh

Ngay trong giai doạn “tiền hiến pháp”, dịa giới hành chính hình thành duới thời Tổng Bí thu Lê Duẩn dã bắt dầu bị phá vỡ. Các dịa phuong gây áp lực rất lớn dể dòi chia tỉnh.

Gần nam tháng sau khi Sài Gòn sụp dổ, ngày 20-9-1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 245, quyết dịnh sáp nhập nam muoi hai tỉnh nhỏ với nhau thành hai muoi mốt tỉnh lớn, “nhằm xây dựng tỉnh thành những don vị kinh tế, kế hoạch và don vị hành chính có khả nang giải quyết dến mức cao nhất những yêu cầu về dẩy mạnh sản xuất, tổ chức dời sống vật chất và van hóa của nhân

dân”.

Ở miền Nam384, có noi ba, bốn tỉnh bị yêu cầu nhập lại làm một nhu: Cần Tho, Sóc Trang, Vinh Long, Trà Vinh; Long Châu Tiền, Sa Đéc, Kiến Tuờng, Mỹ Tho, Gò Công, Long An, Bến Tre. Ở miền Trung, Quảng Bình – một tỉnh Bắc giới tuyến – bị nhập với Thừa Thiên và Quảng Trị. Ở miền Bắc, Y ên Bái, Lào Cai cung bị yêu cầu nhập với Nghia Lộ… Tuy nhiên, tiến trình thi hành Nghị quyết 245 diễn ra không don giản. Nam 1976, việc phân chia lại dịa giới hành chính mới chính thức bắt dầu, theo dó, thay vì hợp thành ba muoi ba tỉnh, thành nhu Nghị quyết 245, số tỉnh, thành mới là ba muoi chín.

Không dợi dến khi công cuộc làm an lớn nhằm “dua cả nuớc tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghia xã hội” thất bại, ngày 29-12-1978, truớc khi cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc nổ ra, tỉnh Cao Lạng dã duợc tách về nhu cu thành hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Son. Sau Đại hội Đảng

lần thứ VI, không khí dộc doán trong Đảng giảm dần, các dịa phuong bắt dầu bộc lộ mâu thuẫn. Ở Bình Trị Thiên dân Huế than: “Oi Huế của ta, hai phần ba là Quảng Trị…”. Ở Nghệ Tinh dân Hà Tinh nói: “Nhập tỉnh cung Vinh dự, tách tỉnh cung Vinh dự”385.

Trung uong buộc phải chấp nhận tách các tỉnh ra “cho phù hợp với trình dộ quản lý”. Ngày 30-6- 1989, Quốc hội biểu quyết: tách Bình Trị Thiên về nhu cu Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-

Huế; tách Nghia Bình thành Quảng Ngãi và Bình Định; tách Phú Khánh thành Phú Y ên và Khánh Hòa. Từ ba muoi chín tỉnh thành, nam 1989, cả nuớc có bốn muoi bốn tỉnh thành. Nhung dịa phuong nào cung chất chứa các vấn dề nội bộ, các tỉnh tách dợt dầu dã tạo ra phản ứng dây chuyền.

Trong nam 1991, có tới ba dợt tách tỉnh: Ngày 12-8-1991, Hà Son Bình duợc tách ra thành Hà

Tây và Hòa Bình; Gia Lai-Kon Tum duợc tách ra thành Gia Lai và Kon Tum. Tháng 10-1991,

Hoàng Liên Son duợc tách thành Lào Cai và Y ên Bái; Hà Tuyên duợc tách thành Tuyên Quang và Hà Giang. Ngày 26-12-1991, Hà Nam Ninh tách thành Nam Hà và Ninh Bình; Thuận Hải duợc tách thành Bình Thuận và Ninh Thuận; Cửu Long duợc tách thành Vinh Long và Trà Vinh; Hậu Giang duợc tách thành Cần Tho và Sóc Trang. Số dịa phuong nam 1991 là nam muoi ba.

Sau Đại hội Đảng lần thứ VIII, ngày 6-11-1996, lại thêm một dợt tách tỉnh khác: Bắc Thái duợc tách thành Bắc Cạn và Thái Nguyên; Hà Bắc duợc tách thành Bắc Giang và Bắc Ninh; Nam Hà duợc tách thành Hà Nam và Nam Định; Quảng Đà duợc tách thành Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng; Minh Hải duợc tách thành Bạc Liêu và Cà Mau. Cuối kỳ họp này, ngày 26-11-1996, Quốc hội phải bỏ phiếu lại dể tách Vinh Phú thành Phú Thọ và Vinh Phúc.

Đầu nam 1997, Sông Bé duợc tách thành Bình Duong và Bình Phuớc; Hải Hung duợc tách thành Hải Duong và Hung Y ên. Số tỉnh thành cả nuớc tang lên sáu muoi mốt. Ngày 1-1-2004, tách luôn hai tỉnh còn lại: Lai Châu thành Lai Châu và Điện Biên; Đak Lak thành Đak Lak và Đak Nông. Nhung co cấu hành chính không dừng lại con số của nam 1997 với sáu muoi bốn tỉnh thành386.

“Công nông hoá” tu pháp

Chiều ngày 5-10-1992, Quốc hội dã quyết dịnh dể Bộ Tu pháp phối hợp với Tòa tối cao quản lý tòa dịa phuong về mặt tổ chức với 292 phiếu thuận, 71 phiếu chống, sau hai ngày tranh luận gay gắt về hai phuong án: Bộ Tu pháp phối hợp với Tòa án Nhân dân Tối cao quản lý tòa dịa phuong hay dể cho Tòa án Tối cao quản lý tòa theo ngành dọc.

Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Phạm Hung ủng hộ phuong án hai và có ý chỉ trích ngành tu pháp, noi soạn thảo Dự luật Tổ chức Tòa án, tự trao cho mình quyền quản lý các tòa cấp duới. Nhung, Bộ truởng Nguyễn Đình Lộc cho rằng, tòa án không phải là một co quan hành chính dể cấp trên quản lý cấp duới mà là một co quan xét xử. Theo ông, việc tòa án cấp duới phụ thuộc tòa án cấp trên về mặt tổ chức là nguyên nhân nảy sinh hiện tuợng thỉnh thị án, hiện tuợng các thẩm phán khi xét xử dã có sẵn bản án bỏ túi.

Một “sách trắng” mà Bộ Tu pháp gửi dến các dại biểu Quốc hội tại kỳ họp dó cho biết: Nhiều tòa án cấp tỉnh dã xếp lịch cụ thể dể lên thỉnh thị án. Nam 1988, do tòa hình sự Tòa án Nhân dân Tối cao có van bản chỉ thị tòa án Hà Nam Ninh xử một bị cáo nam nam tù mà bị cáo này dã bị ức chế, dùng súng bắn hai cán bộ tòa án rồi tự sát.

Những nỗ lực của Bộ truởng Nguyễn Đình Lộc có tác dộng dáng kể dến cải cách tu pháp thời thập niên 1990. Tuynhiên, một mặt do tu pháp Việt Nam không chỉ lệ thuộc vào mô hình mà nó duợc thiết kế, mặt khác, ngay từ lúc ban so, “tam quyền phân lập” dã không duợc những nguời khai sinh chính thể “dân chủ cộng hòa” tán thành, nên cung nhu những quyền tự do khác, quyền duợc thụ huởng công lý của nguời Việt Nam dã không duợc mở ra dúng mức.

Trong quá trình hình thành Hiến pháp 1946, trong nội bộ Ban Dự thảo và trên báo chí dã từng có nhiều cuộc tranh luận. Theo Bộ truởng Tu pháp Vu Đình Hòe, Hồ Chí Minh không dánh giá cao mô hình nhà nuớc theo kiểu tam quyền phân lập. Ông muốn dùng kinh nghiệm xây dựng chính quyền nhân dân trong các can cứ dịa, muốn tập trung cả ba quyền cho co quan dại diện của toàn dân. Hồ Chí Minh cho rằng các nhánh quyền không cần giám sát lẫn nhau vì mặt trận vừa là một co quan giám sát vừa là chỗ dựa cho nhà nuớc387.

Tòa án bắt dầu xuất hiện ở Việt Nam với tu cách là một nhánh quyền lực dộc lập kể từ khi nguời Pháp thiết lập quyền cai trị trên các vùng nhuong dia: Nam Kỳ, Đa Nang, Ha Nôi va Hai Phong. Việc xu an, thoạt dầu hoàn toàn do cac nha hanh chính nguoi Phap dảm trách. Kể từ nam 1921, o Nam Ky, nhiêu vi thâm phan nguoi Viêt dã duợc bổ nhiệm dê xet xu các vụ hình sự dối với cac nguyên va bi cao nói tiếng Việt. Ở các xứ ngoài Nam Kỳ, bên canh cac “toa Nam án” do cac quan tinh diều khiển theo tô chuc tu phap cua Triêu Nguyên, co nhung toa an Phap dat duoi su diêu khiên cua các viên công su388.

Trong thời kỳ tiền hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dã ký Sắc lệnh số 13, ngày 24-1-1946, quy

dịnh: “Tòa án sẽ dộc lập với các co quan hành chính. Các vị thẩm phán sẽ chỉ xử trong vòng

pháp luật và công lý. Các co quan khác không duợc can thiệp vào việc tu pháp”. T u pháp theo thiết kế của Hiến pháp 1946 cung “dộc lập, chỉ tuân theo pháp luật”. Tuy “các viên thẩm phán dều do chính phủ bổ nhiệm”389 co quan tu pháp không thiết lập theo các cấp hành chính nhu về sau mà thiết lập theo cấp xét xử: toà án tối cao, các toà án phúc thẩm, các tòa án dệ nhị cấp và so cấp. Tiến trình xét xử phải theo nguyên tắc: “các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các co quan khác không duợc can thiệp”390. Nhung, chỉ mấy nam sau dó, chính Hồ Chí Minh sẽ từ bỏ dần những nguyên tắc này.

Tại “An toàn khu”, theo Bộ truởng Lê Van Hiến: “Vấn dề tu pháp – hành chính lâu nay cứ lủng củng mãi, mỗi bên dều có sự than phiền. Tu pháp trách hành chính lạm quyền và lộng quyền, bất chấp luật lệ, nhân tình thế chiến tranh mà thi hành nhiều thủ doạn tổn thuong dến quyền tự do cá nhân. Hành chính tố cáo tu pháp lợi dụng nguyên tắc dộc lập mà di dần dến chỗ dộc lập với chính quyền, có khi lấy luật pháp dể bảo vệ những hành vi phản dộng”391.

Tháng Giêng 1948, trong một cuộc họp mở rộng, Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh dã yêu cầu các ngành: “Ra sức trừ bỏ những tệ nhu: Việt Minh lấn quyền hành chính… Mặt trận và bộ dội xung dột và tị nạnh nhau… Kháng chiến kiêm hành chính và chuyên môn (nhất là tu pháp) xung dột nhau”392. Nhung, khi xung dột tu pháp – hành chính không dừng lại ở cấp huyện, tỉnh thì chính Hồ Chí Minh cung phản ứng393.

Ngoài xung dột giữa giới tu pháp với giới hành chính, theo ông Vu Đình Hòe, khía cạnh sâu sắc hon còn là xung dột giữa Đảng và các trí thức, giữa Đảng Cộng sản và những nguời thuộc hai dảng Xã hội và Dân chủ. Từ nam 1950, tuy dảng viên Đảng Dân chủ Vu Đình Hòe vẫn còn là Bộ truởng Tu pháp, nhung quyền lực trên thực tế nằm trong tay Thứ truởng Trần Công Tuờng, một cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản. Không cần trao dổi với bộ truởng, ông Tuờng dã “cùng với chi bộ” của ông chuẩn bị ba dự án sắc lệnh dề cập dến ba vấn dề thay dổi can bản nền tu pháp.

Hon một tháng sau khi “cuớp chính quyền”, ngay 10-10-1945, Chủ tịch Hô Chi Minh ký Sắc lênh 90, tạm thời áp dụng các nguyên tắc dân sự ghi trong Dân phap diên Bac Ky va Trung Ky, Phap quy giam yêu 1883 thi hanh o Nam Ky. Theo ông Vu Đình Hòe, trong quá trình soạn thảo Hiến pháp 1946, Hồ Chí Minh cung dã ra lệnh giữ lại các luật lệ của chế dộ cu không trái với chế dộ mới. Nhung, dến nam 1950, Hồ Chí Minh dã trực tiếp nghe và dồng ý với dề xuất của ông Trần Công Tuờng, thiết lập ba nguyên tắc co bản của dân luật dựa trên ba nguyên tắc tuong ứng của bộ Dân luật Nga Xô nam 1922, duợc soạn thảo duới sự chủ trì của Lenin.

Thay vì tuân thủ nguyên tắc “quyền tu hữu duợc nhà nuớc bảo hộ” theo Hiến pháp 1946, Sắc lệnh 97 của Hồ Chí Minh quy dịnh rằng: “Các quyền dân sự của công dân chỉ duợc thực hiện và bảo vệ khi công dân sử dụng các quyền ấy của mình một cách phù hợp với quyền lợi của nhân dân… Công dân chỉ hành xử quyền tu hữu trong phạm vi phù hợp… Tòa án nhân dân có thể hủy bỏ bất kỳ hợp dồng nào ký kết giữa hai công dân, nếu sự chênh lệch quá dáng về tài sản giữa họ dối với nhau”394.

Ông Trần Công Tuờng còn dề nghị xóa bỏ chế dộ luật su của Pháp dể lại, thay bằng chế dộ bào chữa viên nhân dân, dể cải tiến triệt dể việc xử án. Trong cuộc họp Chính phủ dể trình ba dự án sắc lệnh này, Bộ truởng Vu Đình Hòe dã “bật lên phản dối” nhung theo ông Hòe, “sự dàn hòa, diều giải của Hồ Chủ tịch thật tài tình”. Hồ Chí Minh vẫn ký Sắc lệnh 85- SL, ngày 22-5-1950, quy dịnh “Chế dộ hội thẩm nhân dân” do Thứ truởng Tu pháp Trần Công Tuờng dệ trình nhung vẫn “tán thành ý kiến bổ sung của Bộ truởng Vu Đình Hòe”, không dụng dến Đoàn Luật su395. Trong thời kỳ tiền Hiến pháp 1959, Quốc hội dã ra nghị quyết, ngày 29-4-1958, tách hệ thống công tố ra khỏi tòa án dể trở thành bốn co quan ngang bộ trực thuộc Hội dồng Chính phủ. Trong giai doạn 1945-1958, co quan công tố chua duợc tổ chức thành một hệ thống riêng mà hợp cùng với co quan xét xử thành tòa án các cấp. Nhiệm vụ của Viện Công tố là diều tra, truy tố những vụ phạm pháp về hình sự, giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác diều tra của co quan diều tra, trong việc xét xử của tòa án, trong việc tạm giữ và cải tạo ở các trại giam.

Sau Hiến pháp 1959, hệ thống tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân ra dời, thay vì nằm trong hội dồng chính phủ, trở thành những co quan trực thuộc Quốc hội, ở cấp tỉnh, thành thì trực thuộc hội dồng nhân dân cùng cấp. Sau Hiến pháp 1959, Bộ Tu pháp bị giải thể. Theo ông Nguyễn Đình Lộc, ngoài lý do sao chép từ mô hình nhà nuớc liên bang của Liên Xô, sự sửa dổi này còn mục tiêu nhắm tới ông Bộ truởng Vu Đình Hòe396.

Đặc biệt, ngày 17-11-1950, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 158-SL, quyết dịnh việc bổ sung cán bộ công nông vào ngạch thẩm phán và thang bổ các thẩm phán tòa án nhân dân huyện lên tòa án nhân dân tỉnh. Từ dây, truờng luật Tam Đảo lập ra theo chủ truong của ông Vu Đình Hòe nhằm dào tạo các thẩm phán dệ nhị cấp dã bị dóng cửa vì theo ông Hòe: “Chủ truong dào tạo thẩm phán chuyên môn duong nhiên là bị Đảng doàn Tu pháp gạt bỏ vì nguời cộng sản coi chính trị là thống soái, nên chỉ cần dề bạt cán bộ công nông là dủ giải quyết vấn dề cán bộ tu pháp”397.

Từ dây, theo ông Vu Đình Hòe: “các thẩm phán huyện, da số là dảng viên cộng sản, chỉ qua lớp chính trị và nghiệp vụ”. Quan diểm lựa chọn thẩm phán chủ yếu “dứng trên lập truờng nhân dân” của Hồ Chí Minh dã ảnh huởng lâu dài dến nền tu pháp Việt Nam. Trong giai doạn 1960-1970, khi vai trò của Nhà nuớc bị lu mờ truớc vai trò của Đảng, sự sa sút về chất luợng của dội ngu thẩm phán và tính thiếu dộc lập của tòa án ít duợc chú ý. Nhung, từ cuối thập niên 1980, diều này bắt dầu trở thành một vấn dề lớn.

Theo một báo cáo của Bộ Tu pháp tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX: Nam 1981, chỉ có 3% cán bộ tòa án cấp tỉnh, huyện có trình dộ dại học. Nam 1991 số thẩm phán có trình dộ dại học duợc nâng lên ở mức 50% nhung thẩm phán cấp quận huyện cung chỉ 41% có trình dộ dại học, trong dó nhiều nguời tốt nghiệp hệ tại chức. Cung trong kỳ họp dó, Đại biểu Quốc hội Hoàng Ngọc Nhất, giám dốc Công an Thanh Hóa, nêu tình trạng thẩm phán, nguời nhân danh Nhà nuớc, nhân danh pháp luật, lại không có hiểu biết về luật bằng nguời bảo vệ các bị cáo: luật su. Ông Nhất nói: “Có phiên tòa, bị cáo còn thuộc luật hon cả thẩm phán”. Trình dộ thẩm phán càng thấp tòa án càng lệ thuộc lớn vào cấp ủy. Chính báo Nhân Dân cung phải thừa nhận ở tòa, các thẩm phán thuờng chỉ dua ra các bản án dã duợc cấp ủy xử truớc; những nguời muốn dộc lập với cấp ủy thuờng phải gánh chịu hậu quả, có khi là mất việc398.

Đầu thập niên 1990, Đảng bắt dầu chấn chỉnh tình trạng cấp ủycan thiệp thô bạo vào các bản án. Nhung, dối với những bản án có ảnh huởng lớn, Đảng vẫn cho rằng, “cấp ủy cần tham gia ý kiến về quan diểm xét xử làm co sở cho việc quyết dịnh của co quan kiểm sát và tòa án”399. Chất luợng tòa án cho dến lúc bấy giờ vẫn lệ thuộc vào “tính chất công nông” nằm ở trong số dông của dội ngu. Ngày 5-12-1997, Đại biểu Hoàng Ngọc Thành, Lào Cai, nói truớc Quốc hội: “Tỉnh tôi có bảy thẩm phán thì nam thẩm phán có trình dộ từ lớp 2-3”. Đại biểu Đặng Thanh Huong cho biết thêm: “Có chánh án chỉ tốt nghiệp cấp I”. Chất luợng xét xử, buộc tội thấp dến nỗi, thời gian ấy, tòa án tỉnh phải hủy khoảng 10% án do tòa huyện xử; Tòa tối cao hủy 6,9% án của tòa tỉnh. Cung trong phiên họp ngày 5-12-1997, ông Vu Đức Khiển, chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật cho Quốc hội biết: Chỉ có 1/3 tổng số nguời bị bắt trong muời tháng dầu nam 1997 là bắt theo lệnh có phê chuẩn của Viện Kiểm sát, số còn lại chủ yếu bắt khẩn cấp, bắt quả tang; có tới 18.197 nguời bị bắt nhung rồi phải xử lý hành chính, chiếm 30,26%. Tình trạng này vẫn chua duợc cải thiện nhiều trong thập niên kế tiếp400.

“Bỏ Điều 4 là tự sát”

Trong chế dộ cộng sản, cho dù bộ máy nhà nuớc tổ chức theo lý thuyết nào thì quyền lực cung chỉ tập trung vào một noi: Đảng.

Ngày 10-9-1980, khi phát biểu truớc phiên họp “xem xét bản dự thảo hiến pháp” của Ban Chấp hành Trung uong Đảng khóa IV, Tổng Bí thu Lê Duẩn nói: “Đảng cầm quyền phải biết sử dụng Nhà nuớc, coi dó là một công cụ hùng mạnh và sắc bén dể thực hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân và sự lãnh dạo của Đảng trên quy mô toàn xã hội”401. Trong hai mệnh dề mà ông Lê Duẩn dề cập, nếu nhu quyền làm chủ thực sự của nhân dân là rất mông lung thì sự lãnh dạo của Đảng quả thực là dã ngự trị trên “quy mô toàn xã hội”.

“Công lao” của Đảng Cộng sản Việt Nam bắt dầu duợc ghi trong hiến pháp từ nam 1959402. Lời nói dầu của Hiến pháp 1980 nói thêm: “Nuớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghia Việt Nam cần có một bản hiến pháp thể chế hoá duờng lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai doạn mới. Đó là hiến pháp của thời kỳ quá dộ lên chủ nghia xã hội trong phạm vi cả nuớc”. Điều 4, Hiến pháp 1980, ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam, dội tiên phong và bộ tham muu chiến dấu của giai cấp công nhân Việt Nam, duợc vu trang bằng học thuyết Mác – Lênin, là lực luợng duy nhất lãnh dạo nhà nuớc, lãnh dạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết dịnh mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Tuy không dịch nguyên van, nhung theo ông Nguyễn Đình Lộc, Điều 4 Hiến pháp 1980 duợc mô phỏng từ Điều 6 Hiến pháp 1977 của Liên Xô.

Ngày 12-12-1980, khi báo cáo truớc Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Dự thảo hiến pháp Truờng Chinh giải thích về vai trò lãnh dạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo ông: “Nhà nuớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghia Việt Nam là nhà nuớc chuyên chính vô sản… Nhà nuớc chuyên chính vô sản chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình duới sự lãnh dạo của Đảng của giai cấp công nhân”403. Báo cáo của ông Truờng Chinh nói tiếp: “Vai trò lãnh dạo của Đảng duợc ghi nhận với tinh thần và lời van trang trọng nhu vậy là rất có ý nghia. Với Điều 4, Dự thảo Hiến pháp khẳng dịnh công lao to lớn của Đảng ta…; thể hiện tình cảm sâu dậm của nhân dân cả nuớc dối với Đảng và dáp ứng yêu cầu tang cuờng sự lãnh dạo toàn diện của Đảng trong tình hình mới”404.

Truớc dó, ngày 10-9-1980, Tổng Bí thu Lê Duẩn dịnh nghia: “Nhà nuớc chuyên chính vô sản là noi biểu hiện tập trung sự lãnh dạo của Đảng và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao dộng”405. Trên thực tế, dây là một giai doạn mà các hoạt dộng của Đảng là bao trùm. Suốt cả nhiệm kỳ, Quốc hội khóa VII không ban hành bất cứ dạo luật nào trừ Hiến pháp

1980. Đất nuớc chủ yếu vận hành theo các chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy Đảng.

Tại Hội nghị Trung uong 25, khóa III, ông Lê Duẩn dua ra mô hình chính trị: “Đảng và Nhà nuớc dính nhau làm một. Ở trung uong, thủ tuớng là của Nhà nuớc, dồng thời là của Đảng, là Ủy viên Bộ Chính trị, bộ truởng cung thế… Nhà nuớc làm là Đảng làm. Ví dụ, Đảng làm thủy lợi qua bộ truởng Thủy lợi, qua Bộ Thủy lợi chứ không qua một tổ chức khác”406.

Trong thời gian “Đảng và Nhà nuớc dính nhau làm một”(1976-1986) này, một khối luợng lớn chỉ thị, nghị quyết dã duợc Đảng ban hành. Các van kiện Đảng dã trở thành những van bản có tính quy phạm, trực tiếp diều chỉnh mọi hành vi chính trị, van hóa, giáo dục và xã hội. Thậm chí, giấy dang ký kết hôn giữa ông Võ Van Kiệt và bà Phan Luong Cầm lập nam 1984 cung do Ban

Tài chính Quản trị Trung uong cấp. Các nhà lãnh dạo cao cấp của Đảng trong giai doạn này gần nhu dều có một sự nghiệp chính trị trọn dời: Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn dều từ trần khi dang tại chức. Vai trò của Đảng cung nhu của các nhà lãnh dạo trong hệ thống chính trị bắt dầu duợc diều chỉnh dần kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986)407.

Chủ tịch Quốc hội LêQuang Đạo tại Hội nghị toàn quốc về hội dồng nhân dân vào tháng 2-1992 từng phát biểu: “Nhiều noi, tổ chức Đảng dã tự biến mình thành nhà nuớc, thậm chí siêu nhà nuớc”408. Luật pháp mà các công cụ nhà nuớc thông qua thuờng chỉ là “thể chế hóa duờng lối, nghị quyết của Đảng”.

Đặc biệt, Đảng nắm gần nhu tuyệt dối công tác cán bộ ở cả ba ngành quyền lực. Lá phiếu của nguời dân trong các kỳ bầu cử chỉ là xác nhận những nguời duợc Đảng ghi tên trong danh sách phiếu bầu. Đảng không chỉ kiểm soát Quốc hội thông qua con số hon 90% dại biểu là dảng viên. Ngay cả những dại biểu Quốc hội không phải dảng viên cung phải là nguời của Đảng. Quy trình giới thiệu, hiệp thuong, cho dến lấy ý kiến cử tri noi ở và noi công tác dều do các cấp ủy Đảng chi phối, kể cả những ứng cử viên gọi là “tự ứng cử”409.

Ở cấp quốc gia, việc bỏ phiếu ở Quốc hội bầu các chức danh nhà nuớc chỉ là vấn dề thủ tục.

Theo quy trình cán bộ của Đảng, Ban Chấp hành Trung uong quyết dịnh các chức danh chủ tịch quốc hội, chủ tịch nuớc, thủ tuớng, chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Tối cao; Bộ Chính trị quyết dịnh các chức danh phó thủ tuớng, phó chủ tịch nuớc, phó chủ tịch quốc hội, các bộ truởng; Ban Bí thu quyết dịnh các chức vụ tuong duong thứ truởng. Bộ Chính trị cung dồng thời quyết dịnh nhân sự cấp bí thu, chủ tịch ủy ban, chủ tịch hội dồng nhân dân các tỉnh

thành phố trực thuộc trung uong. Cấp ủy Đảng ở dịa phuong cung quyết dịnh nhân sự theo quy trình tuong tự.

Dự thảo Hiến pháp 1992 chỉ thực sự duợc dua ra thảo luận sau Đại hội Đảng lần thứ VII, tháng

6-1991. Đó là một thời diểm cả thế giới lẫn trong nuớc dều có nhiều biến dộng. “Kinh tế nhiều thành phần” mà Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận hồi nam 1986 buộc Đảng phải “dổi mới hệ thống chính sách, pháp luật” thay vì tiếp tục chi phối mọi mặt dời sống bằng các chỉ thị, nghị quyết nhu thời “quan liêu, bao cấp”. Nhung kinh tế nhiều thành phần và sự sụp dổ của các dảng cộng sản trên thế giới cung dặt Đảng Cộng sản Việt Nam truớc mối lo về tính chính dáng trong vai trò tiếp tục nắm quyền lãnh dạo.

Tháng 5-1990, Yeltsin – nguời bị Gorbachev dua ra khỏi Bộ Chính trị truớc dó không lâu – duợc bầu giữ chức chủ tịch Xô viết Tối cao nuớc Cộng hòa Liên bang Nga. Tháng 7-1990, ông tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản. Tháng 6-1991, trong cuộc bầu cử dân chủ dầu tiên của nuớc Cộng hòa Liên bang Nga, Yeltsin trở thành tổng thống. Quyền lực của nhà nuớc liên bang có nguy co tan rã khi vào tháng 8-1991, một hiệp uớc liên bang mới trao chủ quyền cho các nuớc cộng hòa bắt dầu duợc hình thành. Tình hình tuởng có thể dảo nguợc khi, ngày 19-8-1991, Phó Tổng thống Liên Xô Yanaev làm dảo chính, bắt giữ Gorbachev và lập ra “Ủy ban Nhà nuớc về tình trạng khẩn cấp”.

Trong khi thế giới, nhất là phuong Tây, dang tỏ ra lo lắng thì ở Việt Nam, có thể dọc thấy một sắc thái tình cảm khác thông qua luợng thông tin về cuộc dảo chính tràn ngập mặt báo ra ngày

20-9-1991. Tất cả các van kiện của “Ủy ban Nhà nuớc về tình trạng khẩn cấp” dều duợc báo chí nhà nuớc cho dang nguyên van, báo Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân còn gọi Yanaev là “dồng chí” thay vì dùng chức danh “quyền tổng thống” nhu ngôn từ duợc phát di từ chính những nguời dảo chính.

Nhung niềm hân hoan này dã không dủ dể kéo dài tới ngày hôm sau. Từ vị trí lãnh dạo Xô viết Tối cao Nga, Yeltsin trở thành nguời hùng Liên Xô khi dứng trên tháp pháo xe tang dọc diễn van kêu gọi dân chúng tuần hành chống lại những nguời dảo chính. Ngày 21-8-1991, những nguời dảo chính bỏ chạy khỏi Moscow; một thành viên của “Ủy ban Khẩn cấp”, Bộ truởng Nội vụ Liên Xô Boris Karlovic tự sát. Gorbachev duợc dua ra khỏi noi “tạm giam” nhung quyền lực của ông thì dã hết.

Tháng 11-1991, cựu Ủy viên Bộ Chính trị Yeltsin ký lệnh cấm Đảng Cộng sản hoạt dộng trên lãnh thổ nuớc Nga. Ngày 8-12-1991, một tuần sau khi Ukraina trung cầu dân ý tuyên bố dộc lập với Liên Xô, Yeltsin gặp Tổng thống Ukraina và Tổng thống Belarus, cả ba dua ra tuyên bố giải tán Liên bang Xô viết, lập ra “Cộng dồng các quốc gia dộc lập”. Ngày 24- 12-1991, Nga nắm lấy chiếc ghế của Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc. Hôm sau Gorbachev, vị tổng thống không còn nhà nuớc, dành phải ra di.

Trong khi dó, tại Việt Nam, trong bản dự thảo Hiến pháp mà Chủ tịch Hội dồng Nhà nuớc Võ

Chí Công trình ra truớc Quốc hội vào ngày 27-7-1991, Liên Xô và một số nuớc xã hội chủ nghia vẫn duợc nhắc tên trong lời nói dầu. Ngày hôm sau, trong thảo luận tổ410, nhiều dại biểu dề nghị nên cân nhắc. Bộ truởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Trần Hồng Quân nói:

“Một khi chính những nuớc dó không còn muốn nhận họ là chủ nghia xã hội nữa thì ta không nên nhắc lại”.

Phát biểu ngay sau dó của các tuớng linh có mặt trong Quốc hội cho thấy, ở Việt Nam, chạm tới thành trì xã hội chủ nghia không phải là một việc dễ dàng. Thuợng tuớng Nguyễn Minh Châu yêu cầu giữ nguyên phần nói về Liên Xô, ông tuyên bố: “Chủ nghia xã hội vẫn còn và vẫn còn phát triển”. Một dại biểu quân dội khác, Thiếu tuớng Nguyễn Rang, cung phản bác các ý kiến dề nghị hiến pháp chỉ nên dề cập dến “tu tuởng Hồ Chí Minh” thay vì bao gồm cả “Marx – Lenin”.

Tuớng Nguyễn Rang nói: “Đừng vì thế giới có lộn xộn mà chúng ta thay dổi”.

Khi thảo luận ở tổ hay thảo luận trong phiên họp toàn thể trên Hội truờng Ba Đình411, gần nhu không có ai phát biểu mà không dề cập dến “Điều 4 Hiến pháp” nhung tất cả dều chỉ góp ý về cách diễn dạt chứ không ai dám dề nghị xem xét lại vai trò của lãnh dạo.

Đảng Cộng sản Việt Nam không phải dang “lãnh dạo nhân dân cầm quyền”, nhu Chủ tịch Lê Quang Đạo nói, mà dang trực tiếp cầm quyền. Đó là lý do mà nhiều nhà lãnh dạo cao cấp trong Đảng cho rằng “bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”412. Nguyên lý tam quyền phân lập, cho dù duợc coi là lựa chọn tốt nhất dể tránh bộ máy nhà nuớc tha hóa, lạm quyền, cung không thể vận hành trong một quốc gia dộc dảng.

Chuong XVIII: Tam nhân phân quyền

Về mặt lýthuyết, chủ tịch quốc hội nằm trong “tứ trụ” nhung khi viết lời tựa cho cuốn Đại tuớng Lê Đức Anh, ông Đỗ Muời chỉ nhắc dến tổng bí thu, chủ tịch nuớc và thủ tuớng. Ông Muời viết: “Ba chúng tôi về quan diểm duờng lối, dối nội, dối ngoại trên các linh vực nói chung dều nhất trí

với nhau, có việc gì chua thật thống nhất thì dua ra tập thể Bộ Chính trị bàn dể di dến thống nhất”. Rất khó dể tìm duợc bằng chứng về sự không nhất trí giữa ba ông thông qua các biên bản họp Bộ Chính trị. Khi xuất hiện truớc công chúng, cả ba dều dứng cạnh nhau tuoi cuời, và sinh thời, họ chỉ dành cho nhau những lời tốt dẹp. Nhung dằng sau sự yên tinh trên bề mặt ấy, quyền lực duợc ba ông chế uớc lẫn nhau một cách chặt chẽ trong thế chân kiềng.

Bá»™ ba

Không gian chính trị trong thập niên 1990 dã rút ngắn khoảng cách giữa các giai tầng trong xã hội Việt Nam. Trong các thập niên truớc, chỉ có các nhà báo thực sự cung dình nhu Thép Mới, Hoàng Tùng, Bùi Tín… mới mong có thể tiếp cận duợc những nhà lãnh dạo nhu Lê Duẩn, Truờng Chinh, Phạm Van Đồng. Giữa họ có một khoảng cách xa vời với không chỉ các thuờng dân mà còn với cả các ủy viên trung uong, thậm chí cả với nhiều ủy viên Bộ Chính trị.

Tuy duợc truyền thông nhà nuớc mô tả nhu là một nhà lãnh dạo giản dị, trên thực tế, Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh vẫn là một nguời khó gần. Theo ông Nguyễn Đình Huong413: “Ông Linh thuờng cấm những uỷ viên Trung uong có khuyết diểm nhu Hà Trọng Hòa, Phạm Song… vào họp Trung uong một cách vô nguyên tắc”. Thế hệ Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Võ Van Kiệt, tuy vẫn còn duợc coi nhu “cha, chú”, dã bắt dầu ý thức duợc họ dang ở trong thời kỳ chuyển tiếp từ giai doạn cầm quyền với vai trò lãnh tụ sang giai doạn cầm quyền nhu các nhà chính trị.

Đầu thập niên 1990, Quốc hội bắt dầu họp dài ngày hon, vuờn hoa Nhà Kiếng và hành lang Hội truờng Ba Đình bắt dầu trở thành noi tiếp xúc giữa các nhà lãnh dạo trung uong với các dại biểu là quan chức dịa phuong và các nhà doanh nghiệp. Đây cung là khu vực mà báo giới có thể tiếp xúc phỏng vấn trực tiếp các bộ truởng, các truởng ban của Đảng, tổng bí thu, chủ tịch nuớc và thủ tuớng.

Chủ tịch Lê Đức Anh không có mặt thuờng xuyên bên ngoài vuờn hoa. Tuy ông luôn tỏ ra thân thiện nhung uy lực của “vị tuớng một mắt” vẫn làm e ngại không ít nguời. Chỗ ông dứng không mấy khi có vòng trong vòng ngoài, và báo chí cung không có cho ông nhiều câu hỏi. Nguợc lại, Tổng Bí thu Đỗ Muời xuất hiện ở dâu là kéo theo dó một dám dông. Tổng Bí thu có thể “hùng biện” cho dến khi các nhà báo lần luợt lẻn di vì ông bắt dầu lặp lại những diều dã nói trong các giờ giải lao truớc dó. Ông Võ Van Kiệt thì khác. Sau khi Trợ lý Vu Quốc Tuấn “bật mí” vài diều muốn giải tỏa của Thủ tuớng với các nhà báo quen biết, ông Kiệt sẽ tuoi cuời xuất hiện ở tam cấp của Hội truờng Ba Đình, bắt dầu một cuộc họp báo không chính thức.

Với Lê Đức Anh và Võ Van Kiệt, ông Đỗ Muời bao giờ cung thể hiện sự tuong kính. Khi có việc gì cần trao dổi, dích thân ông Muời di thẳng vào “Thành” gặp ông Lê Đức Anh hoặc ra tận sân tennis gặp ông Võ Van Kiệt. Nhung với Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh thì ông lại thuờng thể hiện cách “lãnh dạo” rất khác thuờng. Khi Quốc hội không phê chuẩn ông Đào Đình Bình, một ứng cử viên trẻ vào chức bộ truởng Bộ Giao thông, từ hàng ghế dầu, ông Đỗ Muời dã nhấp nha nhấp nhổm. Đến giờ giải lao, ông buớc ngay lên bục Chủ tịch Đoàn, duổi theo ông Nông Đức Mạnh ra tận hậu phòng của Hội truờng Ba Đình. Ông Đỗ Muời dí tay sát cổ áo Chủ tịch Quốc hội và nói: “Anh lãnh dạo Quốc hội thi hành nghị quyết của Ban Chấp hành Trung

uong Đảng nhu thế à?”414.

Ông Đỗ Muời sùng bái nền kinh tế xã hội chủ nghia và chấp hành nghị quyết một cách chân thành. Nam 1958, khi làm bộ truởng Bộ Nội thuong, ông chỉ huy dánh tu sản ở Hà Nội. Hai muoi nam sau, cung chính ông dẫn “dại quân” vào Sài Gòn dánh tu sản ở miền Nam. Nhung dến Tết nam 1989, khi dã trở thành nguời dứng dầu của một chính phủ thi hành nghị quyết “dổi mới”, ông lại lên tivi “chúc mọi nguời làm an phát tài”. Theo ông Trần Xuân Giá: “Khi về làm chủ tịch Hội dồng Bộ truởng, từ tu duy cho dến cách diều hành của ông Đỗ Muời thay dổi một cách không ngờ. Ông lắng nghe và thấy duợc những cân dối lớn của nền kinh tế, có khả nang tổng hợp và dua ra duợc những quyết dịnh sắc sảo”. Ông Đỗ Muời cung chọn mang theo sang Van phòng Tổng Bí thu những nguời gần gui trong dội ngu chuyên gia dã giúp ông chống lạm phát thành công nhu Lê Đức Thúy, Nguyễn Van Nam… Đặc biệt, không ít nguời bất ngờ khi ông chọn ông Hà Nghiệp làm nguời giúp việc. Ông Hà Nghiệp duợc coi là một trong những nguời có dóng góp trong tiến trình thay dổi tu duy của ông Truờng Chinh. Sau khi ông Nguyễn Van Linh lên tổng bí thu, ông Truờng Chinh có ý giới thiệu Hà Nghiệp với hy vọng ông Linh tiếp tục phát triển tu duy dổi mới, nhung ông Linh gạt di. Ông Hà Nghiệp phải sang làm trợ lý cho tổng bí thu của Lào rồi về nuớc “ngồi choi xoi nuớc”.

Tháng 8-1991, khi duợc dua lên làm chủ tịch Hội dồng Bộ truởng, ông Võ Van Kiệt dã nhờ ông Hà Nghiệp viết cho mình bài diễn van nhậm chức và theo ông Kiệt, ông dự dịnh sẽ mời Hà Nghiệp sang làm việc cho mình. Khi Hà Nghiệp ở không thì không thấy ai hỏi han, khi ông Kiệt dịnh mời thì ông Đỗ Muời dã di truớc một buớc ra quyết dịnh dua Hà Nghiệp về làm trợ lý.

Tiểu sử chính thức của ông Đỗ Muời ghi: “Xuất thân từ một gia dình nông dân, bản thân là thợ son”. Nhung, khi trở thành tổng bí thu, theo thu ký của ông, Tiến sỹ Nguyễn Van Nam, ông lại

có tham vọng trở thành một nhà lý luận. Bên cạnh hai nhà Marxist cứng rắn là Đào Duy Tùng và Nguyễn Đức Bình, ông trọng dụng Lê Xuân Tùng và tới dại hội giữa nhiệm kỳ, dua thêm một nhà lý luận khác, ông Nguyễn Phú Trọng, vào Trung uong. Sự say sua của ông dã tập hợp thêm duợc Nguyễn Hà Phan, Lê Khả Phiêu, hai nhân vật duợc ông bổ sung vào Bộ Chính trị trong hội nghị giữa nhiệm kỳ tháng 1-1994.

Nhung, theo ông Nguyễn Van Nam: “Ông Đỗ Muời vẫn là một con nguời hành dộng chứ không phải là một con nguời lý luận. Cho nên khi diều hành bên chính phủ, ông có thể nhận biết thực tế dể có những quyết dịnh phù hợp; khi làm công tác Đảng, dụng dến các vấn dề lý luận thì ông phải trông cậy vào Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình, về sau có thêm Nguyễn Phú Trọng và chịu ảnh huởng không ít từ những nguời này”.

Đỗ Muời tên thật là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày 2-2-1917, tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Chú ruột ông là Nguyễn Thọ Chân, bộ truởng Lao dộng trong Chính phủ Phạm Van Đồng. Thuở hàn vi, ông có hai nguời bạn thân là Hoàng Hữu Nhân và Phạm Viết Đào. Cả hai dều sắc sảo, ông Nhân từng có những ý dịnh dổi mới táo bạo từ khi còn là bí thu Thành ủy Hải Phòng, sau Đại hội VI làm truởng Ban Công nghiệp Trung uong nhung phẫn uất, có lúc phải nhảy lầu, vì bị Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh o ép. Ông Đào thì ngang ngạnh, vui vẻ huu trí với chức thứ truởng Bộ Ngoại thuong, thậm chí còn “dàn dúm” với Lê Hồng Hà, Nguyễn Kiên Giang, những nguời từng ủng hộ Trần Xuân Bách. Ông Đào thuờng gọi những nguời duợc Đỗ Muời trọng dụng nhu Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình… là lu “chim ri, chim sẻ”.

Ông Đỗ Muời sống gần nhu dộc thân trong ngôi nhà Tây phía sau Phủ Chủ tịch, vốn là noi ở của Thủ tuớng Phạm Van Đồng. Nguời gần gui ông nhất suốt gần ba thập niên tại ngôi nhà này là bà Thuận, nguời nấu com của ông. Nam 1997, ông Đỗ Muời chuyển về sống trong biệt thự số 11 Phạm Đình Hổ. Bà Thuận, lúc này dã có một nguời con, không về ở cùng. Trong phòng riêng của mình, ông Đỗ Muời cho treo bức ảnh chụp ông và Fidel Castro, cho dặt một chậu dịa lan bằng nhựa… Bàn làm việc của ông dầy những tài liệu, bài báo chi chít những nét gạch dỏ. Một chiếc phản cá nhân trải nệm bông gòn, bọc vải hoa màu dỏ sẫm, duợc kê gần dó. Ông thuờng dặt lung trên chiếc giuờng này sau những giờ xem tài liệu.

So với Lê Đức Anh, lý lịch tham gia cách mạng của ông Đỗ Muời rõ ràng hon, và so với ông Võ Van Kiệt, Đỗ Muời là bậc tiền bối cả về tuổi dời và tuổi Đảng415. Ông Đỗ Muời trở thành ủy viên dự khuyết Trung uong Đảng từ nam 1955. Ông Võ Van Kiệt là ủy viên dự khuyết nam

1960. Trong khi tới nam 1976, ông Lê Đức Anh mới vào Trung uong. Đỗ Muời giữ chức phó phủ tuớng từ nam 1969, nhung, nam 1982, ở Đại hội V, ông bị dặt thứ ba trong hàng kế cận do

Tổng Bí thu Lê Duẩn và nhà tổ chức quyền biến Lê Đức Thọ sắp xếp: Tố Hữu, Võ Van Kiệt, Đỗ Muời.

Ngày 12-8-1991, ba ngày sau khi trở thành chủ tịch Hội dồng Bộ truởng, ông Võ Van Kiệt nhận xét: “Đồng chí Tổng Bí thu Đỗ Muời vừa là nguời kế thừa những kinh nghiệm rất lớn của dồng chí Nguyễn Van Linh, vừa có những kinh nghiệm lớn về quản lý nhà nuớc. Một khi dồng chí lãnh dạo cao nhất hiểu và thông cảm sâu sắc những khó khan của công tác quản lý nhà nuớc thì dó là một thuận lợi lớn cho chúng tôi”416. Theo ông Vu Quốc Tuấn: “Sáu tháng sau, ông Kiệt mới nhận ra là mình nhầm. Ông Kiệt nói với tôi: Tôi tuởng anh Muời dã từng làm việc nhiều nam ở chính phủ, hiểu biết công việc chính phủ thì sẽ là một thuận lợi cho tụi mình. Không ngờ, ông biết nhiều việc của chính phủ quá thì ông lại can thiệp nhiều hon, làm khó mình hon”.

Theo ông Trần Xuân Giá: “Từ dầu dến cuối, ông Đỗ Muời không ủng hộ ông Kiệt, cả về lối sống lẫn quan diểm. Cuối nam 1981, một buổi chiều sau những giờ

Tô Oanh

Go!

∑Home

∑About

Bên Thắng Cuộc II. Quyền Bính ( 3 )

17/01/2013 at 12:07 chiềuĐể lại phản hồi

Bên Thắng Cuộc

II. Quyền Bính ( 3 )

Huy Đức

( Tiếp theo )

Chuong XIX: Đại hội VIII

Giữa thập niên 1990, dổi mới có khuynh huớng chững lại. Đây là giai doạn trong Đảng vẫn có những nguời duợc coi là “bảo thủ”, có những nguời duợc coi là “dổi mới”. Các nỗ lực phát triển kinh tế theo huớng thị truờng rất có thể bị các nhà lý luận quy là “chệch huớng”; các nỗ lực dân chủ hóa cung có thể bị quy là “diễn biến hòa bình”. Trong tình hình dó, thayvì có những tháo gỡ về mặt lý luận dể tránh tụt hậu và tiếp tục cải cách, Đại hội VIII, diễn ra dầy kịch tính vào cuối tháng 6-1996, chủ yếu dể những nhà lãnh dạo tuổi cao sắp xếp các vị trí cầm quyền trong Đảng.

Khúc dạo dầu

Nhân sự Đại hội VIII duợc chuẩn bị trong tình huống Tổng Bí thu Đỗ Muời dã buớc vào tuổi tám muoi, nguời trẻ nhất trong “tam nhân” – ông Võ Van Kiệt – cung sắp buớc sang tuổi bảy muoi tu, còn ông Lê Đức Anh vừa tròn bảy muoi sáu.

Truởng Ban Bảo vệ Trung uong Đảng khóa VII, ông Nguyễn Đình Huong, nói: “Xu thế chung là muốn có sự thay dổi dể dua một thế hệ lãnh dạo hoàn toàn mới lên. Nhung cung có ý kiến cho rằng dất nuớc ở giai doạn cực kỳ quan trọng mà thay cùng lúc ba ‘cụ’ chủ trì thì rất mệt”. Để tham dò mức dộ hậu thuẫn cho cả ba tại vị, Tổng Bí thu Đỗ Muời bắt dầu bằng việc lấy ýkiến từ các vị “lão thành”446.

Trong vòng dầu tiên, ý kiến từ cả miền Bắc và miền Nam dều có vẻ nhu ủng hộ ông Võ Van Kiệt. Từ Hà Nội, thu ngày 7-8-1995 của ông Trần Van Hiển viết: “Nếu dồng chí Đỗ Muời xin rút vì dã ở tuổi tám muoi thì nên giữ lại anh Sáu Dân (Võ Van Kiệt) thay anh Muời làm tổng bí thu”. Theo ông Hiển, ông Kiệt nam ấy “tuy dã ở tuổi bảy ba, nhung vẫn khỏe mạnh và dầu óc còn minh mẫn”. Từ Sài Gòn, cựu phó chủ tịch Hội dồng Bộ truởng Vu Đình Liệu làm hẳn một “tờ trình” dề ngày 7-8-95, cho rằng: “Nên giao chức vụ Tổng Bí thu cho dồng chí Võ Van Kiệt; vì một lý do nào dó – chúng tôi không thể hiểu duợc – thì anh Đỗ Muời nên và cần làm thêm nửa nhiệm kỳ”.

Không rõ bằng cách nào, nhân vật mới vào Bộ Chính trị chỉ hon một nam, ông Nguyễn Hà Phan, lại lọt vào mắt của một số cán bộ lão thành. Theo thu của ông Trần Van Hiển, cho dù ông Đỗ

Muời tiếp tục làm tổng bí thu hay trao lại cho ông Võ Van Kiệt thì ông Nguyễn Hà Phan cung cần duợc dặt vào vị trí của nguời kế vị. Chức vụ mà ông Hiển dề nghị cho ông Nguyễn Hà Phan là “bí thu trực thứ nhất của Ban Bí thu”.

Ở miền Nam, cả Truởng Ban Tổ chức Trung uong Đảng Lê Phuớc Thọ và Cố vấn Nguyễn Van Linh dều tích cực vận dộng cho Nguyễn Hà Phan dồng thời có những hoạt dộng làm giảm uy tín của hai ông Võ Van Kiệt và Phan Van Khải. Theo dặc phái viên Chính phủ, ông Đặng Van Thuợng447: Cố vấn Nguyễn Van Linh dã gặp khoảng ba muoi cán bộ, gồm ủy viên Trung uong Cục miền Nam, ủy viên Trung uong nghỉ huu và các ủy viên thuờng vụ tỉnh ủy thuộc các tỉnh miền Tây Nam bộ dể phổ biến về chuyện, kỳ dại hội này cả ông Phan Van Khải và ông Võ Van Kiệt dều “không còn tham gia chính phủ”.

Ông Phan Van Khải duợc nói là sẽ về “công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh thay ông Võ Trần Chí” vì “có vấn dề thuộc quan diểm lập truờng giai cấp của gia dình truớc dây”; vì “thả lỏng cho con trai lộng hành, dám cả gan xây dựng khách sạn cho di hoạt dộng ở thủ dô Hà Nội”. Theo thu của ông Thuợng, các cán bộ ở dịa phuong dã rất ban khoan khi ông cố vấn và ông ủy viên Bộ Chính trị nói rằng ông Võ Van Kiệt cung “kiên quyết kêu nghỉ và dã duợc một số ủy viên Bộ Chính trị tán thành. Anh ấy rất tốt chỉ tội là vợ con”. Đây không phải là lần dầu tiên Cố vấn Nguyễn Van Linh nói về chuyện vợ con của ông Võ Van Kiệt.

Tại Hội nghị Cán bộ Tổ chức toàn quốc, họp tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 8-1992, Cố vấn Nguyễn Van Linh công khai phát biểu: “Tham nhung dâu cần chống ở dâu, cứ chống ngay trong nhà Thủ tuớng”. Phát biểu của ông Linh không chỉ râm ran trong nội bộ. Tối 8-11-1992,

Đài Chân trời mới, trong một chuong trình phát thanh của mình, nói: “Về vấn dề tham ô cửa quyền, ông Võ Van Kiệt tuyên bố nguời nào tham ô thì phải bị cách chức. Nhung khi một nhà báo hỏi ông về tin ông Nguyễn Van Linh tố cáo ông tham nhung, ông Kiệt dã không trả lời câu hỏi này448. Ông Kiệt cung cho rằng việc diệt trừ tham nhung cần phải có thời gian. Và ông chấm dứt trả lời câu hỏi của các nhà báo khi mọi nguời xoay quanh việc ông Linh tố cáo vợ ông Kiệt tham nhung”.

Chuong trình phát thanh dêm 19-10-1992 của Đài BBC nói thêm: “Mục T in tình báo của tạp chí Kinh tế Viễn Đông số ra tuần này, dề ngày 22-10, nhận xét về dịa vị của Thủ tuớng Võ Van Kiệt. Báo này cho rằng thủ tuớng Việt Nam dang bị áp lực ngày càng nặng từ phía Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bài diễn van nhận chức, ông dã nhắc dến ‘các thử thách mà nội các của ông

phải duong dầu’ tới tám lần. Các nhà quan sát nói diều này chứng tỏ dang có thêm những lời chỉ trích về khả nang hoạt dộng của ông. Trong cuộc họp với các viên chức Thành phố Hồ Chí Minh gần dây, ông Nguyễn Van Linh công khai phàn nàn rằng hai vợ chồng ông Kiệt dang tham nhung. Mặt khác, ông Kiệt không duợc ủy nhiệm vào Ủy ban Thuờng vụ Bộ Chính trị mà chỉ có ông Đỗ Muời, ông Lê Đức Anh và ông Đào Duy Tùng. Nhu vậy ông Kiệt không duợc tham dự vào các quyết dịnh quan trọng nhất449”.

Tối 21-10-1992, Đài RFI dua thêm: “Thủ tuớng Việt Nam Võ Van Kiệt dang phải dối phó với áp lực dến từ phe bảo thủ trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo tạp chí Kinh tế Viễn Đông số ra ngày 22-10 (trên thực tế xuất bản sớm hon), hiện nay ông Kiệt dang bị yếu thế… Nguyên Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh gần dây dã công khai phê bình ông Kiệt và phu nhân là tham nhung. Ông Linh dã tuyên bố nhu trên trong buổi họp với các cấp lãnh dạo Thành phố Hồ Chí Minh”.

Những tin tức trên dây càng lan tỏa rộng hon khi nó duợc “Bản tin A” của Thông tấn xã Việt Nam in lại dua vào dạng tài liệu “luu hành nội bộ”. Ông Võ Van Kiệt dã gửi thu phản dối tới ông Lê Phuớc Thọ (Sáu Hậu), Truởng Ban Tổ chức Trung uong.

Hon ba tuần trôi qua, ông Lê Phuớc Thọ vẫn im lặng. Ông Kiệt biết rõ lý do ông Thọ trì hoãn việc trả lời. Ngày 16-11- 1992, ông Kiệt gửi lá thu thứ hai, lần này ngoài Truởng Ban Tổ chức, ông Kiệt còn chuyển thu dến các nhân vật trong Thuờng trực Bộ Chính trị và Ban Bí thu. Thu duợc viết tay trên mẫu thu của khách sạn Shangri-La, Singapore, với lời lẽ khá gay gắt, phê phán Ban Tổ chức chậm trả lời thu truớc của ông. Ông Kiệt viết: “Nếu vấn dề không duợc làm sáng tỏ thì nguyên tắc kỷ cuong trong Đảng dã bị buông lỏng từ trên. Tôi là Ủy viên Bộ Chính trị, nếu dúng nhu anh Linh nói truớc hội nghị tổ chức toàn quốc thì tôi không những không xứng dáng là một ủy viên trong Bộ Chính trị nữa mà còn không xứng dáng là một nguời dảng viên”450.

Khi tháp tùng chồng trong các chuyến công du, bà Phan Luong Cầm có góp phần làm cho ông Võ Van Kiệt có duợc một hình ảnh khác hon so với các nhà lãnh dạo dến từ các quốc gia cộng sản. Nhung ở trong chính trị nội bộ, chuyện tháp tùng chồng của bà cung bị dánh giá và dàm tiếu. Càng ngày bà càng bị coi nhu một “gót chân Achilles” của ông Kiệt.

Bà Cầm có những hạn chế nhất dịnh trong giao tiếp và trong tính cách nhung dể dẫn dến tình trạng này cung không hoàn toàn do lỗi của bà. Phần lớn thời gian trong cuộc dời mình, kể cả sau khi kết hôn với bà Trần Kim Anh, ông Võ Van Kiệt chủ yếu sống với thu ký, cận vệ, cần vụ. Những thu ký có gia dình riêng nhu ông Phạm Van Hùng, Nguyễn Van Huấn, trong giai doạn

sau nam 1975 cung thuờng ngủ lại nhà của ông. Thầy trò thuờng bắt dầu làm việc từ 5 giờ 30 sáng. Luong thuởng, quà cáp dều do các bác sỹ, bảo vệ quản lý.

Những nguời bạn “tao, mày” với ông Kiệt nhu ông Bảy Phạm Quang Khai, hiệu truởng Đại học Cần Tho và ông Trần Bạch Đằng thì gần nhu coi nhà ông Kiệt cung là nhà mình. Khi nào tiện duờng là ghé qua, rồi với chai ruợu, một ít khô cá sặc, gỏi xoài, họ lại ngồi với nhau nhâm nhi và dàm dạo. Truớc dây, ông không bao giờ giữ cái gì là của riêng, kể cả tiền luong. Từ khi ông lấy vợ, duong nhiên bà Cầm trở thành nguời quản lý, kể cả quà tặng của Thủ tuớng. Trong nhóm giúp việc cung xầm xì và theo ông Phan Minh Tánh: Có lần một ủy viên Bộ Chính trị dến gặp ông, mang theo tấm hình bà Cầm dang cầm gói quà trong một chuyến công du rồi nói: “Ông xem, nó chỉ di dể lấy quà”.

Theo ông Nguyễn Van An: “Ông Nguyễn Van Linh di dâu cung nói xấu ông Võ Van Kiệt. Một lần, tôi dẫn các cán bộ trẻ trong Ban Tổ chức tới tham, vừa vào nhà, ông Linh dã chỉ trích ông Kiệt ngay, bất kể nguời nghe là các cháu cán bộ còn ít tuổi” 451. Thu dề ngày 23-8-1995 của ông Đặng Van Thuợng còn nói rõ hon: “Thật tình tôi rất buồn. Dù sai lầm dến dâu, giữa cuộc họp có cán bộ dảng viên, có cán bộ trí thức mà gọi dồng chí mình là thằng này, thằng nọ. Gọi vợ của dồng chí mình là con mẹ Giang Thanh này, GiangThanh nọ”.

Theo ông Trần Trọng Tân, trong một lần ông Nguyễn Van Linh ốm gần nhu thập tử nhất sinh, ông Tân vào bệnh viện Chợ Rẫy tham, hôm dó có cả vợ ông, bà Bảy Huệ, ông Linh nói: “Nhiều anh em không hiểu vì sao mình di dâu cung nói chuyện Sáu Dân (Võ Van Kiệt). Trên thực tế mình lo. Nếu tới dây, Sáu Dân trở thành tổng bí thu thì gay lắm. Sáu Dân thông minh, phiếu cao, rất dễ thành tổng bí thu. Theo mình, Sáu Dân chỉ là nguời tổ chức thực hiện chứ không vững vàng khi cầm chịch”.

Không chỉ có ông Nguyễn Van Linh, theo ông Phan Van Khải: “Cái gốc của vấn dề là ông Đỗ Muời và các ông khác dều rất sợ ông Kiệt làm tổng bí thu”. Ông Khải cho rằng: “Nếu ông Kiệt làm tổng bí thu, Việt Nam sẽ dổi mới nhanh hon. Tuy không duợc dào tạo hệ thống nhung ông Kiệt luôn nhất quán ủng hộ cái mới. Ông chán dến tận cổ mô hình xã hội chủ nghia miền Bắc và ông làm tất cả dể phá bỏ nó”. Ông Trần Trọng Tân giải thích thêm về sự “không vững vàng” của ông Võ Van Kiệt: “Sáu Dân phát biểu nhiều cái ẩu, ví dụ nhu ông dề xuất dẹp quốc doanh, tu nhân hóa nền kinh tế. Có ông Trung uong dọc ‘Thu gửi Bộ Chính trị’ của Sáu Dân nói Sáu Dân nối giáo cho giặc”.

“Thu gửi Bộ Chính trị”

Khi Hồ Chí Minh còn sống, ông yêu cầu: “Chú Ba, chú Thận, chú Tô phải thống nhất ý kiến với nhau truớc khi dua lên Bác”. Cho dù bản chất mối quan hệ nhu thế nào thì các nhà lãnh dạo cao nhất của Đảng ở mọi thời kỳ dều ý tứ dể nó không bộc lộ. Giữ gìn sự doàn kết luôn duợc dùng nhu một tiêu chí dể dánh giá nang lực của nguời lãnh dạo. Hon ai hết, Tổng Bí thu Đỗ Muời có lợi ích chính trị khi mối quan hệ giữa ba nguời duợc coi là “luôn luôn nhất trí với nhau”. Trên thực tế, mối quan hệ Lê Đức Anh, Võ Van Kiệt, Đỗ Muời là rất khó dể du luận lúc dó coi là “doàn kết”.

Ngày 4-5-1993, ông Võ Van Kiệt chuyển tới ông Đỗ Muời một số trích doạn bức thu của “dồng chí có trách nhiệm, trên 60 tuổi” cho biết: Trong cán bộ cao cấp, “nghỉ huu có, duong nhiệm có” dang có du luận “hoài nghi sự doàn kết của ba dồng chí chủ chốt, hoài nghi duờng lối kinh tế, chủ truong chiến luợc kinh tế, quốc phòng”. Du luận cho rằng, “giữa ba ông không thống nhất với nhau về chủ truong duờng lối phát triển. Đồng chí Đỗ Muời bản thân là một anh bần nông làm nghề tự do nên không có khả nang lãnh dạo chung”452.

Trong một bức thu gửi ông Đỗ Muời vào thang 6-1994, ông Võ Van Kiệt cung dề cập dến “tinh hinh rât phân tan trong lanh dao”. Bức thu của ông Kiệt không nói về các mối quan hệ cá nhân mà di thẳng vào mối quan hệ lãnh dạo giữa Đảng và Nhà nuớc. Thu của ông Kiệt cho thấy, ở thời diểm ấy, vai trò của Đảng duợc nhấn mạnh trở lại, các co quan Đảng có khuynh huớng can thiệp một cách trực tiếp hon duới nhiều hình thức vào hoạt dộng củachính quyền453.

Có lẽ vì bức thu gửi Đỗ Muời vào tháng 6-1994 không có hồi âm nên ngày 9-8-1995, ông Võ

Van Kiệt gửi di bức thu mà về sau duợc biết dến với tên gọi là “Thu gửi Bộ Chính trị”. Lấy lý do, khi “xây dựng các van kiện chuẩn bị Đại hội”, Tổng Bí thu Đỗ Muời cho rằng “cần tổ chức nghiên cứu và thảo luận sâu hon” một số vấn dề thuộc về quan diểm, thu Gửi Bộ Chính trị của ông Võ Van Kiệt nêu bốn nội dung: “1- Đánh giá tình hình, cục diện thế giới ngày nay; 2- Vấn dề chệch huớng hay không chệch huớng; 3- Nâng cao nang lực quản lý nhà nuớc; 4- Xây dựng Đảng”.

Về tình hình quốc tế, ông Võ Van Kiệt cho rằng “tính chất da dạng, da cực” dang chi phối quan hệ giữa các quốc gia thay vì “mâu thuẫn dối kháng giữa chủ nghia xã hội và chủ nghia dế quốc” nhu Đảng từng quan niệm. Đó là lý do mà theo ông Kiệt, một nuớc di theo chủ nghia xã hội nhu Việt Nam vẫn có thể trở thành thành viên ASEAN, ký kết hiệp dịnh khung với EU. Thu 1995

của ông Võ Van Kiệt viết: “Ngày nay, Mỹ và các thế lực phản dộng khác không thể giuong ngọn cờ chống cộng dể tranh thủ du luận và tập họp lực luợng chống lại nuớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghia Việt Nam nhu truớc nữa”.

Trong thu, ông Võ Van Kiệt cho rằng không nên kỳ vọng vào sự phục hồi của “phong trào cộng sản và công nhân quốc tế”, bởi nó không bao giờ có “giá trị và chất luợng cộng sản” nhu ngày xua nữa. Với “bốn nuớc xã hội chủ nghia còn lại” 454, ông Kiệt cung cho rằng “tính chất quốc gia sẽ lấn át tính chất xã hội chủ nghia”, thậm chí quan hệ Việt Nam – Trung Quốc còn “tồn tại nhiều diểm nóng”. Ông Võ Van Kiệt viết: “Sự chấp nhận dối với chế dộ chính trị một dảng của Việt Nam cung dang tang lên – mặc dầu lúc nầy lúc khác vấn dề dân chủ và nhân quyền duợc sử dụng nhu một phuong tiện chính trị dối phó với chúng ta”.

Ông Võ Van Kiệt cảnh báo sẽ là “thảm họa cho dất nuớc” nếu Đại hội VIII “rụt rè bỏ lỡ co hội” xây dựng “dân giàu nuớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, van minh”. Đồng thời, nếu không dáp ứng duợc dòi hỏi phát triển của dất nuớc, “Đảng sẽ dứng truớc nguy co bị tuớc quyền lãnh dạo”455. Phê phán khuynh huớng khẳng dịnh “kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ dạo là một tiêu chí cho dịnh huớng xã hội chủ nghia”456, ông Kiệt viết: “Để giữ duợc dịnh huớng xã hội chủ nghia, dòi hỏi bức xúc là phải nâng cao tính hiệu quả của kinh tế quốc doanh, nhằm làm cho nó chiếm một vai trò chủ dạo trong thị truờng nuớc ta chứ không phải là dành cho nó quyền ‘nắm’ thứ nầy thứ khác”.

Theo ông Võ Van Kiệt, “nguy co chệch huớng dang ẩn náu” trong nhiều hiện tuợng nhu tham nhung, cục bộ, cửa quyền và tính vô chính phủ, và “sẽ sai lầm nếu dem tất cả những phát triển không lành mạnh nàydổ cho co chế kinh tế thị truờng”. Theo ông: “Càng kiên trì dịnh huớng xã hội chủ nghia, càng phải hoàn thiện và phát triển thị truờng, không thể có bất kỳ sự phân biệt dối xử nào. Cần sớm xoá bỏ sự phân biệt hoặc sự hình thành các loại hình kinh tế phi dân sự, kinh tế doàn thể, kinh tế dảng, kinh tế các lực luợng vu trang”.

Ông Kiệt cung phê phán hệ thống pháp luật, bộ máy nhà nuớc và nang lực của cán bộ viên chức không dáp ứng dòi hỏi của nhiệm vụ. Ông dề nghị chuyển “phuong thức diều hành dất nuớc trong thời chiến” với “co chế chính ủy”, co chế “bộ máy của dảng dứng trên hoặc làm thay bộ máy chính quyền”. Ông Kiệt dề nghị dể cho Quốc hội, hội dồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp duợc “làm tròn chức nang quyền hạn” của mình, “các tổ chức co sở dảng không làm thay, không quyết dịnh thay” nhà nuớc. Đồng thời, ông cung dề nghị “bỏ cách suy nghi công thức” về

nguyên tắc “dân chủ tập trung” hay còn gọi là “tập trung dân chủ”, cụ thể: “Để huy dộng trí tuệ của toàn dảng và bảo vệ sự trong sáng trong dảng, cần phải triệt dể dân chủ, dồng thời dể bảo dảm sức chiến dấu của dảng mọi dảng viên phải tuyệt dối tuân theo diều lệ và phục tùng các nghị quyết của dảng”.

Nguời chấp bút “Thu gửi Bộ Chính trị”, ông Nguyễn Trung, nói: “Ông Kiệt là nguời cảm thấy bức bối về sự mất dân chủ trong Đảng. Nam 1995 Việt Nam vừa kết thúc duợc thời kỳ hậu chiến, dổi mới lại bắt dầu chững lại. Trong khi, theo ông Kiệt, nam 1995 lẽ ra phải bung mạnh ra vì có rất nhiều co hội”. Ông Nguyễn Trung nói: “Ông Lê Đức Anh thì quá kín dáo, ông Đỗ Muời thì cản quá trình bình thuờng hóa với ASEAN thông qua lá phiếu của Đào Duy Tùng. Sau một loạt thành công của Chính phủ, nam 1995, uy tín bên trong, bên ngoài của ông Kiệt dều lên cao, có nguy co ông trở thành tổng bí thu, diều mà cả Trung Quốc, ông Đỗ Muời, Lê Đức Anh, dặc biệt là Nguyễn Van Linh dều không thích. Trong bối cảnh dó, thu Gửi Bộ Chính trị ra dời. Ông Kiệt viết thu này, dụng dến một vấn dề cốt lõi trong sinh hoạt Đảng, với mong muốn làm cho mối quan hệ thật rõ ràng: dân chủ ra dân chủ, tập trung ra tập trung”.

Ngày 10-10-1995, “Thu gửi Bộ Chính trị” duợc dua ra bàn trong Bộ Chính trị. Ông Kiệt bị nhiều thành viên trong Bộ Chính trị chỉ trích kịch liệt. Quan diểm không còn dấu tranh giai cấp, Mỹ không phải là dối tuợng của Việt Nam, thế giới dang cần hợp tác, dến lúc cạnh tranh kinh tế chứ không phải coi nhau nhu kẻ thù,… chỉ duợc rất ít nguời ủng hộ457. Ông Phạm Thế Duyệt, ủy viên Bộ Chính trị khóa VII (1991-1996), nói: “Không có ai quá dao to búa lớn, khi Bộ Chính trị phân tích, anh Sáu Dân cung bình tinh tiếp thu. Anh là một nguời hang hái, suy nghi có lúc mạnh dạn. Nhung duới góc dộ tổ chức, không nên coi cách làm dó là bình thuờng. Cho dù ý kiến của anh mang tính chiến luợc, phù hợp với dổi mới của Đảng. Nhung cách làm phải có sức thuyết phục”458.

Ông Nguyễn Hà Phan cho rằng: “Bức thu chệch huớng 100%. Nhung cả tôi, anh Đỗ Muời, anh Đào Duy Tùng và anh Lê Đức Anh dều thống nhất một huớng là không làm to chuyện và không kỷ luật ông Kiệt mà chỉ phân tích làm sao cho ông Kiệt phải nhận khuyết diểm. Chúng tôi biết nguời chấp bút là Nguyễn Trung, cái nguy là ông Kiệt cung bức xúc với dổi mới nên ký vào”459. Anh Đỗ Muời nói: “Anh Kiệt lập truờng tốt thôi nhung từ khi lấy anh Trung làm trợ lý thì hay có việc này việc nọ”460. Ông Phạm Thế Duyệt cung cho rằng: “Anh Sáu Dân dôi khi dể bị tác dộng của các chuyên gia”.

Sau hội nghị Bộ Chính trị, theo ông Nguyễn Hà Phan: “Vì Bức thu ông Kiệt chỉ gửi cho các ủy viên Bộ Chính trị chứ không gửi cho các ông cố vấn nên ông Nguyễn Van Linh có muợn bản của tôi. Tôi cung muốn tranh thủ ông Linh nên dàn xếp êm, không dua chuyện ông Kiệt ra Trung uong nên dua cho ông. Ông Linh lại dùng lá thu có ghi tên tôi sao ra gửi cho các ông cố vấn khác”. Bức thu nhanh chóng duợc tán phát rộng rãi ở trong và ngoài nuớc.

Vậy nhung, ngày 15-11-1995, ông Vu Đình Liệu vẫn viết thu gửi Bộ Chính trị tha thiết dề nghị dể ông Võ Van Kiệt làm tổng bí thu “nhằm tiếp tục giữ và phát triển duợc cái dà của nền kinh tế”. Thu của ông Liệu viết: “Anh Đỗ Muời nên nghỉ vào thời diểm này là phù hợp vì dã ở tuổi tám muoi. Đồng chí Đỗ Muời dã vững vàng cùng với các dồng chí lãnh dạo khác, chẳng những dã khắc phục duợc những khó khan mà còn dem lại bao nhiêu thành tựu to lớn cho tổ quốc, cho nhân dân. Đồng chí Đỗ Muời rút ở thời diểm này là phù hợp và rất vinh quang”. Lá thu của ông Vu Đình Liệu cho thấy các bậc cách mạng lão thành chua coi những quan diểm trong thu gửi Bộ Chính trị của ông Kiệt là lệch lạc.

Ngày 5-12-1995, ông Hà Si Phu, tác giả của nhiều bài chính luận sắc sảo duợc truyền dọc ở thời diểm ấy, dang di xe dạp trên duờng phố Hà Nội thì bị hai nguời di xe máy chèn ngã. Ông Hà Si Phu kêu to: “An cuớp! An cuớp!”. Lập tức công an xuất hiện. Thay vì bắt “cuớp”, công an dã dua Hà Si Phu về dồn, khám túi xách, phát hiện bản sao chép thu gửi Bộ Chính trị ngày 9-8-

1995 của ông Võ Van Kiệt. Hà Si Phu khai tài liệu này ông lấy từ ông Nguyễn Kiến Giang; ông Giang khai lấy từ ông Lê Hồng Hà, một cán bộ lão thành, từng là chánh Van phòng Bộ Công an và truớc dó, từng là giám dốc truờng Đào tạo si quan công an 500. Ba nguời có liên quan dến tài liệu này dã bị bắt ngày 6-12-1996461.

Vụ án Hà Si Phu ầm i trên các dài báo nuớc ngoài và duợc Câu lạc bộ Ba Đình, noi sinh hoạt chính thức của các cán bộ cao cấp nghỉ huu, công khai bàn tán. Nhung ngày 23-12-1995, một thành viên của câu lạc bộ này, ông Trần Lâm, ủy viên Trung uong Đảng khóa IV và V, trong thu gửi Bộ Chính trị, vẫn dánh giá cao vai trò của thủ tuớng và yêu cầu “ba dồng chí chủ chốt hiện nay, dù tuổi dã cao, vẫn cần tiếp tục một nhiệm kỳ nữa”.

Thay vì dặt vấn dề “chệch huớng”, diểm yếu của ông Võ Van Kiệt mà ông Trần Lâm chỉ ra vẫn là những tai tiếng liên quan dến bà vợ Phan Luong Cầm. Nhung, theo ông Trần Lâm, miễn là ông Kiệt “không bao che”. Ông Lâm viết: “Trong xã hội phức tạp hiện nay, không phải chỉ một

mình dồng chí Võ Van Kiệt bị du luận xì xào, mà hầu hết các dồng chí lãnh dạo cao cấp nhất dều bị du luận bàn tán về nguời thân, ta cần cảnh giác với du luận”.

Tuy nhiên, ý kiến của các bậc lão thành chỉ có ảnh huởng phần nào. Uy tín của cả ba ông trong Trung uong dều giảm sút. Khi lấy phiếu tín nhiệm lãnh dạo chủ chốt, chỉ có Đỗ Muời dạt số phiếu hon 50%, ông Kiệt có lúc chỉ còn mức tín nhiệm 40%. Cung trong thời gian dó, theo ông Lê Khả Phiêu: “Ba dồng chí cố vấn Nguyễn Van Linh, Phạm Van Đồng, Võ Chí Công viết thu dề nghị những dồng chí dã ở trong dộ tuổi bảy muoi nên rút lui. Bàn di bàn lại mãi cung không thống nhất duợc”. Đầu tháng 3-1996, Trung uong họp Hội nghị 11, về sau trong nội bộ gọi là Hội nghị 11a, dua ra khỏi danh sách tái ứng cử các ủy viên Bộ Chính trị trên bảy muoi tuổi nhu Lê Đức Anh, Võ Van Kiệt, Đoàn Khuê, Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình, Lê Phuớc Thọ, Vu Oanh, Bùi Thiện Ngộ.

Ngày 13-3-1996, ông Vu Đình Liệu gửi thu “Mật khẩn” cho Bộ Chính trị, Tổng Bí thu Đỗ Muời và Ban Nhân sự Đại hội VIII, nói rằng việc các ủy viên tới tuổi nghỉ hết dã làm cho “nhiều dồng chí, chủ yếu là các dồng chí cách mạng lão thành ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Nam Bộ ban khoan lo lắng”. Ông Vu Đình Liệu nói ông ủng hộ phuong án cả ba ông – Đỗ Muời, Võ Van Kiệt và Lê Đức Anh – rút lui. Nếu “giữ lại một” thì theo ông Liệu “nguời cần giữ lại phải là dồng chí Võ Van Kiệt”. Ông Liệu viết: “Đồng chí Đỗ Muời dã bảy muoi chín tuổi. Tôi nay dã bảy muoi tám nên tôi rất hiểu, khi tuổi càng cao sức khỏe càng thấp”.

Hon một tuần sau, thu gửi Bộ Chính trị của ông Võ Van Kiệt trở thành dối tuợng phê phán trong bài phát biểu của Thuợng tuớng Lê Khả Phiêu tại dại hội Đảng bộ Học viện Chính trị – Quân sự cao cấp462. Bài nói của Tuớng Phiêu không chỉ dích danh Thủ tuớng Võ Van Kiệt nhung nội dung của nó “dập lại” khá danh thép những vẫn dề duợc dặt ra trong bức thu.

Ba tháng truớc ngày khai mạc Đại hội Đảng lần thứ VIII, toàn van bài phát biểu của Tuớng Lê Khả Phiêu duợc công bố trên trang nhất báo Quân Đội Nhân Dân463. Sau khi ca ngợi “bản linh chính trị” của Đảng bộ Học viện, Tuớng Phiêu nói dến “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật dổ và dặc biệt ông nhấn mạnh “âm muu phi chính trị hóa các lực luợng vu trang”. Những “âm muu và thủ doạn” mà ông Phiêu nói là của các thế lực thù dịch ở “trong và ngoài nuớc”.

Tuớng Lê Khả Phiêu nói: “Khi Liên Xô sụp dổ, các thế lực dế quốc chủ nghia và các trào luu co hội xét lại dã chuyển phuong thức tiến công lấy kinh tế, chính trị làm chính, kết hợp bạo lực và can thiệp vu trang, hy vọng xóa bỏ những nuớc xã hội chủ nghia trong thời gian ngắn nhất, trong

dó có Việt Nam ta. Nhung thực tiễn dã chứng tỏ rằng, lịch sử dã và dang diễn ra khác với mong uớc của họ”. Tuớng Lê Khả Phiêu cho rằng: “Các mâu thuẫn co bản của thời dại tuy có những biểu hiện mới nhung vẫn tồn tại một cách khách quan, bất chấp cái mốt tu tuởng thời thuợng về diều hòa và hợp tác giai cấp”.

Sau khi phân tích những “muu mô diên cuồng hòng xóa bỏ chế dộ xã hội chủ nghia ở nuớc ta trong những nam cuối thế kỷ này”, Tuớng Phiêu nói tiếp: “Không phải không có nguời muốn giã từ hệ tu tuởng mà thực chất là giã từ hệ tu tuởng Marx – Lenin dể roi vào một hệ tu tuởng khác; muốn phi tu tuởng hóa, coi việc phân chia ra ranh giới giữa hai chế dộ tu bản và xã hội chủ nghia là một cái gì xo cứng, giáo diều, gây trở ngại cho việc nuớc ta hòa nhập vào thế giới và gào lên cùng với thế giới dó”. Tuớng Phiêu nhấn mạnh: “Cung chua có lúc nào mà các tuyên bố mang tính chất ‘cuong linh chính trị’ do các nhóm nguời ở trong nuớc và nuớc ngoài tự xung là ‘chí sỹ yêu nuớc’ lại duợc dua ồn ào nhu vậy! Nguời ta cho rằng, dất nuớc ta hiện nay chỉ cần ‘dộc lập và dân chủ’ chỉ cần ‘dộc lập và phát triển’ chứ chẳng cần dịnh huớng phát triển nào, nhất là dịnh huớng xã hội chủ nghia”.

Lê Khả Phiêu coi những dề nghị cải cách co chế lãnh dạo là “cuộc tiến công vào tổ chức của Đảng ta. Tuớng Phiêu nói: “Có nguời dang dòi hỏi từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, cho rằng, tập trung sẽ dẫn dến quan liêu, dộc doán; có nguời dang phê phán nguyên tắc lãnh dạo tập thể, cá nhân phân công phụ trách”.

Trong thu gửi Bộ Chính trị, ông Võ Van Kiệt dề nghị xóa bỏ các tổ chức kinh tế doàn thể, kinh tế dảng, kinh tế của các lực luợng vu trang. Trong phát biểu của mình, Tuớng Lê Khả Phiêu nâng tầm quan diểm: “Không phải không có ý kiến cho rằng, lực luợng vu trang chỉ nên làm một công cụ vu trang thuần túy chỉ tập trung vào sẵn sàng chiến dấu và chiến dấu, cho rằng, co cấu Đảng lãnh dạo lực luợng vu trang nhu hiện nay là không thích hợp. Về thực chất, dó là âm muu ‘phi chính trị hóa’ lực luợng vu trang nhân dân, làm suy yếu sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam trong cuộc dấu tranh hiện nay”.

Truớc Đại hội, tinh thần bài phát biểu của Tuớng Lê Khả Phiêu duợc phổ biến khá rộng rãi trong những dợt sinh hoạt chính trị của quân dội. Tên tuổi Võ Van Kiệt bắt dầu duợc các sỹ quan chính trị nhắc dến một cách không chính thức khi họ phê phán “chệch huớng” và “khuynh huớng xã hội chủ nghia dân chủ” dang hình thành trong Đảng.

Vụ án Nguyễn Hà Phan

Trong những ngày ấy, ông Nguyễn Hà Phan dang làm truởng Ban Tổ chức Đại hội Đảng lần thứ VIII, công việc thuờng duợc giao cho ứng cử viên của một trong những vị trí chủ chốt. Ông Đỗ Muời vẫn nắm giữ vai trò quan trọng nhất: Truởng Ban Nhân sự Đại hội.

Nếu thế hệ các nhà lãnh dạo vào Đảng “truớc Cách mạng” rời khỏi chức vụ trong Đại hội VIII, Nguyễn Hà Phan chắc chắn trở thành nguời kế cận có nhiều tiềm nang nhất. Điều này có thể trở thành niềm tự hào của các dảng viên miền Nam nếu nhu ông Nguyễn Hà Phan không trở thành một trong những ngọn cờ tiên phong chống lại ông Võ Van Kiệt.

Nam 1991, khi duợc dua từ Hậu Giang ra Hà Nội, với cách an nói khéo léo và với một bề ngoài toát lên quan diểm lập truờng: thuờng xuyên mặc những bộ dồ ba túi màu xanh xám, chân di dép sandal, tóc tai bo phờ “thâu dêm lo việc nuớc”, ông Nguyễn Hà Phan duợc dua vào Ban Bí thu, giữ chức truởng Ban Kinh tế Trung uong Tại Đại hội VII. Tháng 7- 1992 ông Phan duợc giao thêm chức phó chủ tịch Quốc hội. Nhu một nguời tiên phong bảo vệ thành trì xã hội chủ nghia, cứng nhắc cả trong các chính sách kinh tế và trong các chủ truong dối ngoại, Nguyễn Hà Phan nhanh chóng làm hài lòng cả ông Đỗ Muời và ông Lê Đức Anh.

Khi còn là một nhà lãnh dạo dịa phuong, Nguyễn Hà Phan là một nguời nang dộng. Truớc Đại hội VII (1991), theo ông Phan Van Khải: “Khi dự thảo Luật Đất dai duợc dua xuống Long An lấy ý kiến lãnh dạo các tỉnh miền Tây, Nguyễn Hà Phan khi ấy dang là bí thu Hậu Giang, ủng hộ chính sách da sở hữu dất dai, công nhận quyền tu hữu về ruộng dất. Nhung khi ra Hà Nội, vào Ban Bí thu, ông lập tức theo quan diểm của ông Đỗ Muời, chống tu nhân hóa dất dai và trở thành một trong những nguời lớn tiếng bảo vệ sở hữu toàn dân”.

Đặc biệt, Nguyễn Hà Phan luôn “sát cánh” bên cạnh nhà lý luận Đào Duy Tùng, phê phán thị truờng, phê phán chính phủ nuông chiều dầu tu nuớc ngoài, nuông chiều tu nhân và các thành phần kinh tế, xem nhẹ vai trò quốc doanh. Những cải cách kinh tế theo huớng thị truờng của Chính phủ bị coi là có “nguy co chệch huớng”. Theo ông Phan Van Khải: “Truớc Hội nghị giữa nhiệm kỳ, Nguyễn Hà Phan dua ra một bản thống kê muời sáu diểm chệch huớng của Chính phủ”. Tháng 1- 1994, trong hội nghị dó, Nguyễn Hà Phan duợc dua vào Bộ Chính trị cùng với Lê Khả Phiêu, Nguyễn Mạnh Cầm.

Trong Bộ Chính trị, không chỉ có các tuớng linh nhân danh an ninh quốc phòng dể ngan cản một số dự án dầu tu nuớc ngoài. Điều mà ông Võ Van Kiệt và nhiều thành viên Chính phủ cảm thấy

khó chịu là, nguời nhiệt tình ủng hộ Tuớng Lê Đức Anh nhất trong vấn dề này lại là một nhân vật duợc ông Kiệt cất nhắc từ miền Nam: ông Nguyễn Hà Phan.

Theo Bộ truởng Kế hoạch Đầu tu Trần Xuân Giá: Đầu thập niên 1990, Chính phủ chọn BHP làm dối tác tham dò dầu ở mỏ Đại Hùng. Khi thông qua Bộ Chính trị, sau khi nghe ông Đậu Ngọc Xuân, Chủ tịch Hội dồng thẩm dịnh các dự án Quốc gia trình bày, Nguyễn Hà Phan dứng dậy nói: “Đồng bào miền Nam chắc chắn không một ai dồng tình chọn Úc làm dối tác khai thác dầu khí vì bọn Úc dã từng dua quân vào tàn sát dồng bào ta”. Ông Đậu Ngọc Xuân phân tích: “Can cứ vào công nghệ thì công nghệ Úc là tiên tiến. Trong các nuớc phuong Tây chỉ có Úc chịu dầu tu còn các nuớc khác sợ cấm vận Mỹ”. Ông Võ Van Kiệt liền dứng dậy: “Nếu nói nhu Sáu Phan thì tôi dề nghị Bộ Chính trị nên chọn Lào dầu tu. Mỹ là kẻ thù mới dánh ta; Pháp dô hộ 80 nam; Nhật khiến cho 2 triệu nguời chết dói; Úc, Hàn theo Mỹ mang quân sang… Không có nuớc nào có công nghệ tốt lại không có dính líu vào một ‘tội ác’ nào dó”.

Ông Nguyễn Hà Phan thừa nhận: “Tôi còn phản dối nhiều quyết dịnh dầu tu vi phạm an ninh quốc gia khác của Chính phủ. Sân bay Nội Bài, Chính phủ quyết dịnh cho Malaysia dầu tu, họ dã bỏ vô 2 triệu USD nhung tôi thấy không thể dể cho nuớc ngoài dầu tu ở cửa ngõ Thủ dô nhu thế tôi phản dối. May mà ông Kiệt có quan hệ tốt với Thủ tuớng Mahathia nên họ không phạt. Tôi cung phản dối việc ông Kiệt cho phép Singapore dầu tu vào khu Ba Đình, xây dựng lại khu Nhà khách Chính phủ, 37 Hùng Vuong, và Nhà khách Trung uong, số 8 Chu Van An”.

Đặc biệt, Nguyễn Hà Phan rất duợc “ông cố vấn” Nguyễn Van Linh và Truởng ban Tổ chức Lê Phuớc Thọ ủng hộ. Theo ông Nguyễn Đình Huong: “Ông Linh muốn Nguyễn Hà Phan thay ông Kiệt làm thủ tuớng”. Theo ông Đặng Van Thuợng, ông Cố vấn Nguyễn Van Linh trực tiếp phổ biến với các cán bộ chủ chốt ở miền Tây: “Kỳ này, anh Sáu Phan, ủy viên Bộ Chính trị, sẽ duợc cử lên thay anh Sáu Dân, vì anh Sáu Phan có lịch sử chính trị suôn sẻ, tận tụy vô tu, sẽ giúp cho nhân dân dồng bằng sông Cửu Long phát triển nhanh hon”464. Ông Đặng Van Thuợng viết tiếp: “Anh Sáu! Tôi dã dám viết và ký tên tức là tôi dám chịu trách nhiệm về những thông tin ấy. Có lẽ vì quá buồn chán tình dời ‘sớm nắng chiều mua’ – Tôi hiểu trong Đảng còn nhiều nguời hết sức tốt, nhung cung không thiếu những kẻ trở cờ, trở rất nhanh, dổ tội cung rất khéo. Có anh bây giờ nói ra câu nào cung có anh Sáu nhung không phải Sáu Dân, Sáu Khải dâu nghe465”.

Việc tạo du luận cho Nguyễn Hà Phan không chỉ duợc tiến hành ở Nam Bộ. Hai tuần truớc dó, ngày 7-8-1995, từ Hà Nội, ông Trần Van Hiển, ủy viên Trung uong Đảng Khóa IV cung dã viết

thu gửi Bộ Chính trị, dề nghị: “Anh Đỗ Muời có thể ở lại thêm một nửa nhiệm kỳ ở chức tổng bí thu nhung cung với diều kiện dể anh Sáu Phan làm bí thu trực thứ nhất trong Ban Bí thu nhằm khi anh Đỗ Muời nghỉ thì có nguời thay thế”. Nhung diều mà ông Nguyễn Hà Phan “gặt” duợc sau những vận dộng chính trị này không phải là chức tổng bí thu hay thủ tuớng mà là phản ứng của những nguời biết rõ quá khứ của ông.

Theo ông Nguyễn Đình Huong: “Chỉ còn mấy tháng nữa là dại hội, tự nhiên có hàng loạt don thu, tố cáo Nguyễn Hà Phan dã từng khai báo nghiêm trọng và khi ra tù nhận làm nội gián cho dịch”. Khi dua Nguyễn Hà Phan vào Bộ Chính trị, không phải ông Đỗ Muời không biết chuyện ông Nguyễn Hà Phan từng khai báo trong tù, nhung khi ấy, do ủng hộ ông Phan, ông Muời chủ truong “không dào bới quá khứ”. Nhung rồi, theo ông Nguyễn Đình Huong, những lá thu nêu các dẫn chứng thuyết phục dến nỗi làm cho các ông Đỗ Muời, Lê Đức Anh sợ, dù cả hai dều

thích Sáu Phan.

Ông Nguyễn Đình Huong nói: “Ông Đỗ Muời bắt buộc phải dồng ý cho thẩm tra, ông Lê Đức Anh cung bắt buộc phải dồng ý. Riêng cố vấn Nguyễn Van Linh không dồng ý. Ông Muời tính giao cho Bộ truởng Nội vụ Bùi Thiện Ngộ di thẩm tra nhung ông Ngộ từ chối. Ông Muời gọi tôi lên, tôi nói, gần dại hội quá rồi. Ông Muời nói phải làm. Tôi bảo, nếu anh giao cho tôi anh phải giao bằng van bản. Ông Muời cho van bản. Anh Bùi Thiện Ngộ tuy chối nhung trong quá trình làm lại giúp tôi rất nhiều. Ông Kiệt thì nói ngắn: Anh cứ làm. Không có ông Kiệt thì tôi không làm duợc”.

Ông Nguyễn Đình Huong kể: “Truớc khi vào Nam tôi hỏi ông Lê Phuớc Thọ có biết gì về truờng hợp của Nguyễn Hà Phan không. Tuy dã từng là cấp trên của ông Phan từ trong chiến tranh nhung ông Lê Phuớc Thọ nói không biết. Tôi bay vào Sài Gòn. Biết tôi ở T78, ông Nguyễn Van Linh cho gọi tới nhà. Tôi dến, mặt ông hầm hầm: ‘Đồng chí vào lâu chua? Làm gì?’. Tôi bảo: ‘Chúng tôi vào có hai việc: gặp lại các dồng chí Trung uong Cục xác mình lại câu chuyện ai viết Nghị quyết 15; xác minh các don thu tố cáo dồng chí Nguyễn Hà Phan’. Ngay lập tức, ông Linh mắng: ‘Cậu không xứng dáng làm truởng Ban Bảo vệ Đảng’. Thái dộ của ông Linh làm chúng tôi và cả nguời giúp việc của ông, cùng sững sờ. Tôi dứng dậy nói: ‘Tôi vào dây theo sự phân công của Bộ Chính trị, có ấn kiếm tổng bí thu giao, nếu anh thấy không xứng dáng thì dề nghị anh có ý kiến với Bộ Chính trị’. Rồi, tôi bỏ ra về”.

Ông Huong kể tiếp: “Cuộc tìm kiếm phức tạp hon tôi tuởng. Truớc khi vào Nam, tôi yêu cầu Bộ truởng Nội vụ Bùi Thiện Ngộ ra lệnh cho bên tàng thu hỗ trợ. Tuy nhiên, co quan này luu giữ tới hon hai triệu tàng thu, một số lại bị dốt trong những ngày tranh tối tranh sáng sau 30-4-1975. Tôi nghi thật khó mà tìm duợc. Nhung, ông Kiệt nói: ‘Tôi sẽ tìm thầy lang giỏi cho anh’. ‘Thầy Lang’ mà ông Kiệt nói là một vị dại tá lớn tuổi, truớc ở Quân khu IX. Tôi nhớ khi Nguyễn Hà Phan vừa vào Ban Bí thu, vị dại tá này dã viết thu cho tôi: ‘Chú làm bảo vệ Đảng, chú chú ý,

Nguyễn Hà Phan còn dịnh leo cao dấy’. Một nguời nữa cung biết khá rõ Sáu Phan là ông Nguyễn Van Hon, Bí thu An Giang”.

Ông Nguyễn Hà Phan bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt vào tháng 12-1958, khi dang là tỉnh ủy viên Sóc Trang. Ông Phan thừa nhận: “Tôi bị bắt sau khi cả bí thu và phó bí thu Tỉnh ủy dầu hàng, khai ra. Những gì nó khai rồi, không chối duợc thì mình cung khai. Lúc kiểm diểm mình dã nói hết. Lỗi thì có lỗi nhung thử hỏi có ai bị bắt mà không khai. Nam

1964, sau khi ra tù, Đảng dã kiểm thảo và thử thách tôi ba tháng. Từ dó ở dâu khó khan nhất là lại cử tôi di. Khi duợc giới thiệu vô Trung uong, khóa VI, tôi nói, cứ dể tôi ở dịa phuong. Nhung, ông Vu Đình Liệu nói: ‘Mày phải ra’. Nam 1986, chính ông Kiệt rút tôi ra làm phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch, dến nam 1988, khi xảy ra biểu tình ở Nông truờng Sông Hậu, ông Linh bắt tôi quay về. Có lẽ chuyện của tôi xuất phát ở chỗ hay góp ý, có lần ông Sáu (Kiệt) nghe có vẻ không vui. Sau dó, ông Vu Đình Liệu vào muợn hồ so trong tù của tôi rồi in ra”.

Đây chỉ là cách nói nhằm kịch tính hóa tình huống bị truất phế của ông Phan. Cho dù biết rõ quá khứ nhung khi thấy Nguyễn Hà Phan “lập công chuộc tội” chính những nguời nhu ông Nguyễn Van Hon, Vu Đình Liệu vẫn cất nhắc ông. Nhung, khi ông Phan phê phán ông Võ Van Kiệt di chệch huớng thì họ không ngồi yên nữa. Ông Nguyễn Van Hon tuyên bố: “Thằng ấy là cái gì mà dánh Võ Van Kiệt. Tụi tao sẽ cho nó biết”. Trên thực tế, theo những gì mà Ban Bảo vệ Trung uong Đảng thu thập duợc, câu chuyện khai báo của ông Nguyễn Hà Phan phức tạp hon diều ông nói trên dây rất nhiều.

Ông Nguyễn Đình Huong kể: “Chúng tôi phải lục tìm từ hàng triệu tài liệu trong tàng thu. Điều này vô cùng khó khan vì Sáu Phan sinh ra ở Bến Tre, hoạt dộng dịch vận ở Sóc Trang và bị bắt ở dây. Tên khai sinh của ông không phải là Nguyễn Hà Phan, còn hồ so trong tù lại ghi là Phạm Khoa. Sau nam 1975, ta có thu duợc hồ so nhung ông Muời Kỷ, bí thu Bến Tre, dể thất lạc mất. Trong quá trình bị bắt, ông bị dua ra bốn, nam nhà tù của chế dộ Sài Gòn. Khi ra tù, ông viết một

bản tự kiểm, khai dã dấu tranh bất khuất, có nhiều thành tích trong tù. Sau giải phóng, ông tiếp tục báo cáo thái dộ trong thời gian ở tù tốt. Khi giới thiệu ứng cử Ban Chấp hành Trung uong khóa VII, ông duợc 100% phiếu tín nhiệm. Trong hai nội dung tố cáo, không có co sở dể nói Nguyễn Hà Phan duợc dịch cài lại làm nội gián; tôi chỉ chứng minh duợc, trong tù, Sáu Phan khai báo nghiêm trọng, những nguời duợc ông xâydựng co sở trong lòng dịch dều bị ông khai ra và sau dó bị dịch giết sạch”.

Ông Nguyễn Đình Huong mang hồ so tìm duợc ra Hà Nội. Ông Huong nói: “Tôi chỉ có hai ngày làm báo cáo dể trình bày truớc Bộ Chính trị. Khi họp nghe báo cáo về vụ Nguyễn Hà Phan, Bộ Chính trị mời cả hai ông cố vấn Phạm Van Đồng và Nguyễn Van Linh. Tôi trình bày chi tiết, kể cả những bút tích của Nguyễn Hà Phan. Sau khi nói suốt hai giờ, tôi dề nghị ông Phan có mặt, muốn bảo vệ gì thì bảo vệ. Ông Nguyễn Hà Phan xin lỗi về những diều mình dã làm. Ông Nguyễn Van Linh im lặng”. Theo ông Lê Khả Phiêu, Bộ Chính trị chỉ dề nghị cách chức Nguyễn Hà Phan chứ không khai trừ. Nhung, ngay sau hội nghị Bộ Chính trị, hồ so về ông Nguyễn Hà Phan dã duợc lặng lẽ dua tới tay các ủy viên Trung uong Đảng.

Ông Nguyễn Thái Nguyên kể: “Chủ nhiệm Van phòng Chính phủ Lê Xuân Trinh gọi tôi lên nói:

Sáu Hon (Nguyễn Van Hon) bảo ta có trách nhiệm phát tài liệu cho các ủy viên Trung uong từ Bình Thuận trở ra, phần Nam Bộ ông ấy lo. Tôi nhận các tập hồ so từ tay ông Lê Xuân Trinh, gửi ai, dã duợc ông Sáu Hon ghi rõ”. Ngày 17-4-1996, chỉ trong vòng một buổi sáng, Trung uong họp biểu quyết khai trừ Nguyễn Hà Phan ra khỏi Đảng.

Ngay sau phiên họp Trung uong, Nguyễn Hà Phan chỉ có vài ngày dể thu xếp hành lý. Ông gần nhu bị trục xuất khỏi Thủ dô và dua ngay về Cần Tho cho dù lúc dó ông vẫn còn là phó chủ tịch

Quốc hội. Hành tung của ông Phan ở quê tiếp tục bị các nhà cách mạng lão thành theo dõi và nhiều nguời tỏ ra không hài lòng khi ông Phan không bị dối xử nhu tội phạm466.

Tam nhân tại vị

Từ ngày 3 dến ngày 9-6-1996, Trung uong tái nhóm họp dể bàn về nhân sự. Tại hội nghị mà về sau ngôn từ nội bộ gọi là “Trung uong 11b”, Ban Nhân sự dã dua bốn phuong án về “ba dồng chí lãnh dạo chủ chốt” – Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Võ Van Kiệt – ra Trung uong tham dò. Kết quả, Trung uong dã không bỏ phiếu cho ba ông ở lại nhung cung không dủ phiếu dể mời ba ông về làm cố vấn.

Phuong án “cả ba dồng chí ở lại Bộ Chính trị” chỉ duợc 35 phiếu dạt 22,01%. Phuong án “hai dồng chí ở lại Bộ Chính trị” duợc 11 phiếu, 6,9%. Phuong án “một dồng chí ở lại Bộ Chính trị” duợc 68 phiếu, 42,76%. Còn phuong án “cả ba dồng chí dều không tái cử Bộ Chính trị, làm cố vấn”, duợc 38 phiếu, 23,89%. Chỉ còn chua dầy ba tuần là dại hội mà nhân sự chủ chốt vẫn rất mo hồ. Trong lời bế mạc Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung uong khóa VII, Tổng Bí thu Đỗ Muời nói: “Về danh sách giới thiệu Ban Chấp hành Trung uong khóa VIII, nếu có vấn dề mới, dến Hội nghị Trung uong 12, Bộ Chính trị sẽ báo cáo xin ý kiến Ban Chấp hành Trung uong”467.

Hon hai tuần truớc khi Đại hội VIII bắt dầu, vấn dề nhân sự vẫn còn chua có gì rõ ràng. “Cách mạng lão thành” lại viết thu góp ý. Phuong án không dể những uỷ viên Trung uong dã dến tuổi sáu muoi lam tái cử bị một số nguời phản dối. Thu dề ngày 12-6-1996 của ông Trần Lâm viết: “Đồng chí Đỗ Muời tiếp tục làm tổng bí thu ở dộ tuổi tám muoi, mà gạt bỏ hết những ủy viên Trung uong ở tuổi sáu lam thì khoảng cách về tuổi giữa tổng bí thu và các dồng chí khác trong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành TW sẽ là muời sáu tuổi trở lên dến vài ba chục tuổi. Nhu vậy tổng bí thu sẽ dễ duợc coi nhu cha chú, nhu lãnh tụ”. Ông Trần Lâm ủng hộ việc “kiếm nguời thay thế Chủ tịch nuớc Lê Đức Anh” trong khi phê phán ông Đỗ Muời: “Trong vấn dề chuẩn bị nhân sự này dồng chí (Đỗ Muời) tỏ ra nể nang, chịu sức ép của một số nguời muốn gạt anh Võ Van Kiệt vì dịnh kiến hoặc vì chủ nghia cá nhân mờ ý chí sáng suốt”.

Ngày 19-6-1996, tại Hội nghị Trung uong 12, khi dọc “Báo cáo về việc thực hiện Nghị quyết Trung uong 11”, Tổng Bí thu Đỗ Muời nói: “Xin dề nghị dồng chí Lê Đức Anh và dồng chí Võ Van Kiệt tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Trung uong, Bộ Chính trị khóa VIII… Xin dề nghị thêm hai dồng chí nữa là dồng chí Đoàn Khuê và dồng chí Nguyễn Đức Bình tái cử Trung uong và Bộ Chính trị khóa VIII”. Tuy bị một số ủy viên phản ứng 468 nhung Trung uong vẫn biểu quyết thuận dề nghị này của ông Đỗ Muời469. Chiều ngày 19-6-1996, Tổng Bí thu Đỗ Muời trấn an: “Chúng tôi – Đỗ Muời, Võ Van Kiệt, Lê Đức Anh – dã nhiều tuổi, tu tuởng của chúng tôi là muốn chuẩn bị tốt nhân sự cho khóa VIII, tốt nhất là dến Quốc hội khóa X có thể thay thế nhân sự chủ chốt, nhất là chức tổng bí thu. Thay thế dồng chí tổng bí thu là một vấn dề lớn. Chúng ta cần có thời gian chuẩn bị dể thay thế các vị trí chủ chốt và nếu tìm duợc thì sẽ thaythế ngay, lúc dó chúng tôi sẵn sàng lui về tuyến hai”.

Cung trong buổi chiều 19-6-1996, theo bản Tổng hợp ý kiến thảo luận tổ: “Nhiều ý kiến nhấn mạnh các dồng chí trên chỉ nên ở trong Trung uong và Bộ Chính trị dến hết nhiệm kỳ quốc hội

(tháng 7-1997) rồi rút, phải kiên quyết chuẩn bị nguời dến lúc dó thay thế. Có ý kiến chức vụ tổng bí thu cung nên nhu vậy. Bộ chính trị nói các dồng chí sẽ rút dần nhung không rõ có thời hạn không. Ba dồng chí chủ chốt dều cao tuổi mà ở lại cả nhiệm kỳ thì không hay, nhung có co sở gì dảm bảo các dồng chí rút dần hay bầu rồi là ở cả nhiệm kỳ?”470. Một số ý kiến cho rằng: “Bộ Chính trị nói phuong án Trung uong 11 làm lòng dân không yên là không có co sở. Chính phuong án ba dồng chí ở lại cả dân mới không yên lòng vì thấy lãnh dạo cao tuổi mà không chuẩn bị duợc nguời thay”471.

Đoàn Khuê và Trần Đức Luong cùng duợc dự kiến làm chủ tịch nuớc. Tháng 5-1996, Đoàn Khuê tham Pháp với tu cách là bộ truởng quốc phòng, theo ông Nguyễn Van An: “Gặp Tổng thống Jacques Chirac, ông Đoàn Khuê nói: tôi rất vui mừng tới dây duợc dón ngài tại Hà Nội. Cố vấn Phạm Van Đồng nghe hỏi: Đoàn Khuê nói thế với tu cách gì”. Trong một chuyến tham Nhật, Phó Thủ tuớng Trần Đức Luong cung nói ngụ ý rằng tới dây, Việt Nam sẽ có thay dổi lớn về nhân sự. Nhằm tìm nguời thay thế mình ở cuong vị tổng bí thu, Đỗ Muời dã dua ra “bốn phuong án” tham dò, gồm Đào Duy Tùng, Lê Xuân Tùng, Đặng Xuân Kỳ và Lê Khả Phiêu.

Cách làm này bị một số cán bộ lão thành phê phán: “Việc dua ra hội nghị trung uong vừa qua ba bốn phuong án dể lấy biểu quyết tín nhiệm tổng bí thu, thủ tuớng và chủ tịch nuớc, không phải là biểu hiện của phong cách làm việc dân chủ, tập thể, mà nó chỉ là biểu hiện sự không dồng nhất trong Bộ Chính trị và của sự thiếu quyết doán (sự quyết doán cần thiết) của tổng bí thu trong tình huống hết sức phức tạp này”472. Không phải ai cung thực sự hiểu duợc chiến thuật nhân sự của ông Đỗ Muời. Theo ông Nguyễn Van An: “Ông Đỗ Muời dua ra bốn nguời là rất có kỹ thuật dể tranh thủ các lực luợng. Dù thật, dù giả, ai thấy tổng bí thu dua mình vào danh sách kế vị cung dều hài lòng. Đấy là nghệ thuật chính trị của anh ấy”.

Truớc Đại hội một tháng, ứng cử viên Đào Duy Tùng bắt dầu ở trong tình trạng hôn mê sâu. Còn về ứng cử viên Đặng Xuân Kỳ, ông An nói: “Ông Đỗ Muời không có ý tiến cử mà chỉ là diệu hổ li son. Ông Muời muốn dua Đặng Xuân Kỳ ra khỏi trung tâm lý luận của Đảng. Ở chỗ rộng, ông Muời nói ông giới thiệu nhung ông Kỳ xin rút, thực ra ông Kỳ không hề xin rút. Ở chỗ hẹp, ông dánh giá Đặng Xuân Kỳ rất nặng nề về quan diểm”. Danh sách bốn chỉ còn lại hai, theo ông Nguyễn Van An: “Ông Lê Xuân Tùng thì sức khỏe kém chỉ còn lại ông Lê Khả Phiêu”.

Nhiều phuong án thì phân tán phiếu. Qua tham dò, không có ứng cử viên nào hội dủ số phiếu tín nhiệm dể thay thế Tổng Bí thu Đỗ Muời. Ông Muời, tám muoi tuổi, nhu ông Trần Lâm viết, cung không tiện ngồi lại một mình. Kết quả: Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Võ Van Kiệt, Đoàn Khuê, Nguyễn Đức Bình tiếp tục tại vị; chỉ một số ủy viên Bộ Chính trị trên bảy muoi tuổi nhu Lê Phuớc Thọ, Vu Oanh, Bùi Thiện Ngộ là nghỉ nhu dề nghị của ba ông cố vấn.

Sức khỏe Trung uong

Truớc Đại hội VIII, ứng cử viên sáng giá cho chức Bộ truởng Ngoại giao, ông Lê Mai, bị mất dột ngột; ngay sau bầu cử, một tân ủy viên Bộ Chính trị, ông Nguyễn Đình Tứ, cung dột tử truớc khi nhận chức473. Cái chết của ông Tứ dã làm thay dổi chút ít phuong thức tiến hành dại hội. Cho dù quy trình nhân sự vẫn duợc làm kỹ trong thời gian trù bị, nhung từ Đại hội IX, chỉ khi dại hội chính thức khai mạc việc bỏ phiếu mới duợc tiến hành. Ngoài hai truờng hợp chết bất ngờ này, chuyện sức khỏe Trung uong truớc và sau Đại hội VIII cung diễn ra dầy kịch tính.

Chỉ mấy tháng sau Đại hội, Tuớng Lê Đức Anh bị dột quỵ. Ông bị xuất huyết não khá nặng. Thông tin về bệnh tình của Tuớng Anh duợc giữ kín tuyệt dối. Hon ba tháng sau, khi bắt dầu hồi phục, bằng một ý chí tại vị sắt dá, Tuớng Lê Đức Anh quyết dịnh vẫn xuất hiện trên truyền hình và dài phát thanh dọc lời chúc mừng nam mới.

Giám dốc Quân y viện 108, Bác sỹ Vu Bằng Đình, nói: “Chúng tôi phải hộ tống ông từ bệnh viện ra phòng thu. Ống kính chỉ quay nửa nguời nên dân chúng không biết ông vẫn ngồi trên giuờng bệnh. Các bác sỹ nấp phía sau sẵn sàng cấp cứu”. Theo Bác sỹ Vu Bằng Đình, sau khi dọc xong lời chúc nam mới, ông Lê Đức Anh về nhà, từ dây, ông duợc một ê-kip bác sỹ nguời Trung Quốc trực tiếp cham sóc trong giai doạn hồi phục. Các bác sỹ Việt Nam hoàn toàn không biết phác dồ diều trị mà các bác sỹ Trung Quốc dùng cho Tuớng Lê Đức Anh.

Nguời Trung Quốc còn nắm giữ không ít bí mật về sức khỏe của các nhà lãnh dạo Việt Nam. Giữa thập niên 1990, thỉnh thoảng, bị cánh nhà báo chặn lại khi vừa buớc từ toilet ra, Tổng Bí thu Đỗ Muời, với quần quên kéo khóa, leo lên chiếc bàn nuớc nhỏ dặt phía sau Hội truờng Ba Đình, ngồi xếp bằng vui vẻ chuyện trò với dân báo chí. Nhiều khi cao hứng, ông nói: “Tôi dã từng bị thần kinh dấy”. Không phải ông nói dùa, theo ông Nguyễn Van Trân, Bí thu Trung uong Đảng khóa III, nguời từng hoạt dộng với ông, có thời gian ông Đỗ Muời bị bệnh thần kinh, gần nhu không thể làm việc, có lúc lên con, ông phải dùng một cây gậy múa cho hạ nhiệt, có lúc

nguời ta thấy ông Đỗ Muời một mình leo lên cây… Nam 1963, ông dã phải di Trung Quốc chữa bệnh tới mấy nam mới về Việt Nam làm việc474.

Từ truớc Đại hội VIII, khi công việc co cấu nhân sự bắt dầu, theo ông Nguyễn Van An, nguời có trách nhiệm nắm hồ so các nhà lãnh dạo, kể cả các hồ so về sức khỏe, trong Bộ Chính trị xuất hiện một số “ông giấu bệnh”. Ông Lê Xuân Tùng, sau khi bị tai biến, một chân gần nhu bị liệt vẫn khẳng dịnh là dang rất khỏe. Ông Lê Minh Huong giấu bệnh tiểu duờng nặng. Ông Đoàn

Khuê giấu bị ung thu hạch. Ông Đào Duy Tùng bị ung thu nhung vẫn bám giữ chức Truởng Ban Van kiện của Đại hội cho dến khi bị tế bào ung thu lan lên não.

Tổ truởng Tổ Biên tập Van kiện Hà Đang kể: “Trong nhiều cuộc họp, cả trong một vài cuộc tiếp xúc, thấy anh (Đào Duy Tùng) có những lúc lim dim, chừng nhu lo dãng… Sau Hội nghị Trung uong 10, Tổ Biên tập Van kiện chúng tôi họp lại trên co sở tiếp thu những ý kiến của Trung uong, sửa chữa lần cuối bản Dự thảo Báo cáo chính trị. Tôi thay mặt Tổ trình bày nội dung và cách sửa. Anh vẫn lim dim. Và khi tôi trình bày xong, anh dặt một vài câu hỏi, lại chính là những diều tôi vừa nói”475. Tháng 5-1996, “ứng cử viên tổng bí thu” Đào Duy Tùng xuống Hải Phòng dự dại hội dại biểu Đảng bộ Thành phố,

dang phát biểu thì bị dột quỵ rồi từ dó, nhu dã nói, ở trong tình trạng hôn mê sâu cho dến khi qua dời476.

Tuy vẫn giữ nguyên chức vụ, nhung ở Đại hội VIII, Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Võ Van Kiệt dều mất phiếu rất nhiều vì lớn tuổi. Cả ba ông chỉ dắc cử với số phiếu dứng áp chót trong Ban Chấp hành Trung uong. Theo ông Nguyễn Đình Huong: “Cả ba dều thấy xu thế của Đại hội nên dẩy nhanh quy trình chuyển giao”. Tháng 4-1997, khi chuẩn bị nhân sự cho Quốc hội khóa X, Bộ Chính trị quyết dịnh cả ba ông sẽ không tiếp tục ra ứng cử477. Công tác nhân sự vẫn diễn ra với nhiều kịch tính trong giai doạn tìm nguời kế vị này.

Ông Nguyễn Van An nói: “Ông Đỗ Muời muốn ông Lê Khả Phiêu thay thế mình. Ông Muời muốn có ảnh huởng với quân dội. Về già ông ấy vẫn muốn tiếng nói của mình có trọng luợng. Nhung uy tín của ông Lê Khả Phiêu trong quân dội rất thấp”. Ông Lê Khả Phiêu giải thích: “Khi sang chủ trì họp Quân ủy Trung uong, anh Đỗ Muời mấy lần nhấn mạnh sự ủng hộ tôi. Đối với anh Muời, có ba thành phần cán bộ mà anh nhiệt tình ủng hộ và cất nhắc: một là con cái gia dình cán bộ, hai là xuất thân từ giai cấp công nhân, ba là dã kinh qua chiến dấu. Lúc ấy, trong Quân

ủy, ai cung biết tôi là nguời ở lâu nhất trong các chiến truờng chống Pháp, chống Mỹ, chống Khmer Đỏ. Mãi tới nam 1991, tôi mới thực sự rời khỏi chiến truờng Campuchia”.

Theo ông Lê Khả Phiêu thì việc ông trở thành ủy viên thuờng vụ Thuờng trực Bộ Chính trị diễn ra khá thuận lợi. Ông Phiêu nói: “Khi anh Đào Duy Tùng còn, anh Đỗ Muời dã nói tôi qua cùng trực Bộ Chính trị. Làm thuờng trực thì anh Lê Đức Anh dồng ý nhung làm tổng bí thu thì lúc dầu anh ấy hoi ngại. Trong thâm tâm, anh Lê Đức Anh vẫn muốn làm tổng bí thu. Có lần anh nói tôi sang làm thủ tuớng”. Nhung mối quan hệ Lê Khả Phiêu – Lê Đức Anh phức tạp hon những gì ông Lê Khả Phiêu nói này478.

Theo ông Nguyễn Van An, ông Đỗ Muời cử ông sang làm việc với quân dội hai lần dể dua ông Phiêu sang Thuờng trực, cả hai lần dều bị ông Lê Đức Anh và Đoàn Khuê trả lời “không di duợc” vì “quân dội dang rất cần dồng chí Lê Khả Phiêu nắm Tổng cục Chính trị”. Ông Nguyễn Van An nói: “Có vấn dề dằng sau. Ông Lê Đức Anh dang muốn dua Đoàn Khuê lên giữ chức chủ tịch nuớc. Nhung nếu ông Đoàn Khuê dã chủ tịch nuớc thì làm sao ông Lê Khả Phiêu có thể làm tổng bí thu. Tôi nói với ông Đỗ Muời, nếu anh thực sự muốn xây dựng anh Lê Khả Phiêu thì nên sớm có quyết dịnh. Ông Muời quyết dịnh và cử tôi sang gặp lần thứ ba. Ông Lê Đức Anh dồng ý dể ông Lê Khả Phiêu di nhung vẫn giữ ý kiến sẽ dua Đoàn Khuê lên làm chủ tịch nuớc. Tôi nghi, thời bình mà chính quyền dể hai ông tuớng nắm thì coi sao duợc”.

Theo ông Nguyễn Van Nam, thu ký của ông Đỗ Muời: “Khi Lê Đức Anh giới thiệu Đoàn Khuê, Bộ Chính trị họp mấy ngày. Ông Muời về hỏi chúng tôi: Đoàn Khuê làm chủ tịch duợc không? Tôi nói: anh dịnh dua ông tuớng thứ hai lên nữa à? Ông Kiệt bằng tuổi Đoàn Khuê, các anh ép ông ấy nghỉ. Nguời giỏi thì không dể, lại dể một ông tuớng ham chức ham quyền”.

Ông Nguyễn Van An kể: “Khi chuẩn bị nhân sự chủ chốt, ông Lê Đức Anh vẫn giới thiệu Đoàn Khuê làm chủ tịch nuớc và Thuờng vụ không có ai phản dối. Tôi gặp anh Đỗ Muời nói Đoàn Khuê bị ung thu dấy, anh Muời nói: Đoàn Khuê nói với tao, uống tam thất nó tan hết rồi mà. Đoàn Khuê còn vạch bụng cho tao xem. Tôi bảo: thua anh, theo chuyên môn thì dấy là khối u nó chạy chứ không phải tan dâu ạ”.

Theo Giáo su Vu Bằng Đình, viện truởng Quân y 108 kiêm phó chủ tịch Hội dồng Bảo vệ sức khỏe Trung uong: “Chúng tôi phát hiện Đoàn Khuê bị ung thu hạch rất sớm. Sau khi bí mật hội chẩn trên co sở các mẫu xét nghiệm mà không cho biết là của ai, tất cả các chuyên gia trong nuớc dều khẳng dịnh dấy là ung thu hạch. Tôi dích thân trên duới muời lần dến nan nỉ ông vào

bệnh viện. Biết khi ấy ông Lê Đức Anh dang giới thiệu Đoàn Khuê kế vị, tôi trấn an ông: nếu anh dồng ý dể chúng tôi chữa trị kịp thời thì anh không những có thể sống thêm một thời gian dài mà còn có sức khỏe dể dảm duong những nhiệm vụ quan trọng hon. Nhung ông Đoàn Khuê vẫn phủ nhận kết quả hội chẩn và chỉ thị cho tôi phải báo cáo Hội dồng Bảo vệ sức khỏe Trung uong là ông chỉ bị viêm hạch”.

Truớc khi Quốc hội khóa IX nhóm họp dể chuẩn bị nhân sự cao cấp, theo Đại tá Vu Bằng Đình, Tuớng Lê Khả Phiêu, với tu cách là ủy viên thuờng vụ Thuờng trực Bộ Chính trị, cùng với Truởng Ban Tổ chức Trung uong Nguyễn Van An yêu cầu Viện 108 báo cáo sức khỏe của cả hai vị tuớng Lê Đức Anh và Đoàn Khuê. Ông Đình nói: “Tôi và bác sỹ Nguyễn Thế Khánh cùng ký vào bệnh án, bí mật báo cáo lên Bộ Chính trị”.

Theo ông Nguyễn Van An: “Sau khi anh em dua cho tôi bệnh án của Đoàn Khuê: ung thu gan giai doạn ba, chỉ có thể kéo dài cuộc sống không quá một nam, họp Thuờng vụ Bộ Chính trị, tôi dua vấn dề sức khỏe ra, ông Đoàn Khuê vẫn cãi. Tôi phải công bố bệnh án”. Đoàn Khuê dập bàn tuyên bố: “Tôi là nguời khỏe mạnh, chúng nó phá. Tôi sẽ cho hai thằng dó nghỉ”. Đại tá Vu Bằng Đình nhớ lại: “Cả tôi và anh Lê Thi, bí thu Đảng ủy Viện 108, nhận duợc quyết dịnh nghỉ ngay lập tức”. Không chỉ “lỡ co hội” trở thành nguyên thủ quốc gia, bệnh tình Đoàn Khuê tiến triển xấu từng ngày. Cuộc sống của ông chỉ còn sáu tháng thay vì một nam nhu dự doán. Ngày

16-1-1998, Tuớng Đoàn Khuê chết.

Tháng 7-1997, Quốc hội khóa X khai mạc, chức chủ tịch nuớc duợc trao ông Trần Đức Luong, một nguời cùng quê Quảng Ngãi với ông Phạm Van Đồng; chức thủ tuớng thuộc về ông Phan Van Khải. Từ nhiệm kỳ VII, lãnh dạo cấp cao có khuynh huớng duợc phân dều cho ba vùng: tổng bí thu miền Bắc, chủ tịch nuớc nguời miền Trung, thủ tuớng nguời miền Nam.

“Tam nhân” khi ấy vẫn ở trong Thuờng vụ Bộ Chính trị, và ông Đỗ Muời thì vẫn còn là tổng bí thu. Tại cuộc họp Bộ Chính trị vào trung tuần tháng 12-1997, vấn dề dua Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Võ Van Kiệt ra khỏi Bộ Chính trị mới duợc dặt ra. Truởng Ban Tổ chức Trung uong Nguyễn Van An báo cáo kết quả lấy phiếu tham dò trong cán bộ chủ chốt từ cấp bộ truởng trở lên, cho thấy có tới 80% dồng ý dể cả ba ông nghỉ. Theo ông Nguyễn Van Nam, thu ký ông Đỗ Muời: “Họp Bộ Chính trị, ông Lê Đức Anh sợ chết không nhắm duợc mắt nếu ra khỏi Bộ Chính trị. Ông Anh nói không ứng cử dại biểu Quốc hội dã là một sai lầm rồi giờ ra khỏi Bộ Chính trị là một sai lầm nữa”.

Truớc ngày khai mạc Hội nghị Trung uong lần thứ Tu, khóa VIII, cố vấn Võ Chí Công dề nghị ba nguời nên rút ra khỏi Bộ Chính trị nhung trong ba ông không ai có một quyết dịnh dứt khoát. Trong tình thế dó, ông Phạm Van Đồng dã vận dộng ông Nguyễn Van Linh và ông Võ Chí Công, cùng dua ra sáng kiến cả ba từ chức cố vấn Ban Chấp hành Trung uong Đảng. Theo ông Lê Khả Phiêu: “Khi có thu của ba dồng chí xin Trung uong cho thôi vai trò cố vấn dể giao cho các dồng chí trẻ làm, anh Đỗ Muời gọi tôi sang nói: nhu vậy là các cụ muốn mở duờng dể chúng tôi lui về”.

Chức vụ tổng bí thu lúc này coi nhu thuộc về ông Lê Khả Phiêu nhung ông Đỗ Muời vẫn “dân chủ” dua “bốn phuong án” ra lấy phiếu tham dò. Kết quả, ông Phiêu cao phiếu nhất, ông Nguyễn Van An, nguời không có trong bốn phuong án nay, dứng thứ hai, nguời thứ ba là ông Nông Đức Mạnh. Theo ông Nguyễn Van Nam: “Nhiều nguời chất vấn ông Đỗ Muời, sao thời bình lại chọn tổng bí thu là một ông tuớng? Ông Muời phân bua: các anh xem, tôi chọn bốn, nam nguời mà dều hỏng cả, chỉ còn anh Phiêu uy tín nhất”.

Ngày 31-12-1997, trong phiên bế mạc Hội nghị Trung uong 4, ông Đỗ Muời chính thức bàn giao chức tổng bí thu cho Tuớng Lê Khả Phiêu. Ba ông ra khỏi Ban Chấp hành Trung uong, chấp nhận giữ vai trò cố vấn.

Chuong XX: Lê Khả Phiêu và ba ông cố vấn

Tháng 6-1991, ông Lê Khả Phiêu mới duợc bầu vào Ban Chấp hành Trung uong; nam 1992, vì giữ chức chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông duợc co cấu vào Ban Bí thu và tháng 1-1994, tại dại hội Đảng giữa nhiệm kỳ, ông duợc dua vào Bộ Chính trị. Vậy mà tháng 12-1997, ông Lê Khả Phiêu dã trở thành tổng bí thu. Nhung, ông Lê Khả Phiêu làm tổng bí thu ở một giai doạn mà các nhà chính trị Việt Nam bắt dầu bị quan sát bởi Internet. Ông cung làm tổng bí thu khi các ông Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Võ Van Kiệt vẫn giữ quyền bính nhu những “thái thuợng hoàng”. Cho dù có không ít nỗ lực dể thay dổi bên trong Đảng Cộng sản Việt Nam, nguời bị thay thế lại là ông Lê Khả Phiêu chỉ sau hon ba nam giữ chức.

Kỷ nguyên Internet

Tuy con duờng phát triển hạ tầng viễn thông duợc dắp bởi công lao của rất nhiều nguời, sự chấp thuận của ông Lê Khả Phiêu vào nam 1997 là rất quan trọng dể Việt Nam có thể kết nối Internet. Đó là giai doạn ông Phiêu bắt dầu nhận chuyển giao quyền lực và bản thân ông cung không hình

dung duợc khả nang thay dổi thế giới của công nghệ này. Internet từ dây sẽ dua Việt Nam buớc sang một kỷ nguyên rất khác.

Cuối thập niên 1980, diện thoại vẫn là một dịch vụ xa xỉ mà rất ít nguời dân miền Bắc biết tới. Cho dù tiếp quản một hệ thống viễn thông tuong dối hiện dại của miền Nam, dến nam 1990, cả nuớc chỉ có chua tới 80.000 máy diện thoại479.

Cho dến giữa thập niên 1980, Việt Nam hoàn toàn là một quốc gia bị dóng cửa. Nam 1985, phải mất chín muoi phút mới có thể có một cuộc diện thoại gọi từ Việt Nam ra nuớc ngoài. Theo ông Đỗ Trung Tá 480, lúc dó Việt Nam chỉ có sáu kênh vô tuyến nối Việt Nam với Hồng Kông. Nam 1993, cung theo ông Tá, tỉ lệ diện thoại chỉ dạt 0,087%, nghia là một vạn dân Việt Nam chua có duợc một máy diện thoại.

Nam 1987, ông Đặng Van Thân481 dã có một quyết dịnh làm thay dổi can bản ngành viễn thông Việt Nam. Theo ông Đỗ Trung Tá: “Khi ấy, Liên Xô viện trợ không hoàn lại muời triệu rúp vàng dể trang bị mạng thông tin cho Bộ Công an nhung ông Thân thuyết phục ông Phạm Hùng không nên dùng vì cho dù dó là thiết bị hiện dại nhất của Đông Đức thì công nghệ analog của họ dã rất lạc hậu so với thế giới. Những thiết bị này sau dó duợc mang tặng Cuba. Trong số muời triệu rúp thiết bị ấy, ông Thân chỉ dùng bốn thứ: pin mặt trời, cột, kèo và xe chuyên dùng”. Công nghệ kỹ thuật số của “tu bản” duợc ông Thân chọn từ nam 1987, thông qua việc hợp tác dầu tu với Úc, dã mở ra một giai doạn mới của ngành viễn thông Việt Nam cho dù dầu thập niên 1990, giá cuớc viễn thông của Việt Nam vẫn thuộc vào hàng dắt nhất thế giới482.

Nam 1992, trong một lần làm việc với Thủ tuớng Võ Van Kiệt, ông Đặng Van Thân dua ra kế hoạch, dến nam 2000, Việt Nam sẽ có một diện thoại cho 100 dân. Ông Võ Van Kiệt hỏi: “Tại sao phải là nam 2000 mà không phải là 1995”. Theo ông Tá, nguời cùng có mặt trong buổi làm việc: “Chúng tôi coi dó là một mệnh lệnh và trên duờng về, chúng tôi dua ra chiến luợc tang tốc hai giai doạn: 1993-1995 và 1995-2000”. Khi bắt dầu dua diện thoại di dộng vào Việt Nam, ông Đặng Van Thân lại quyết dịnh dúng khi chọn công nghệ số GSM, loại công nghệ mà châu Âu mới triển khai nam 1991. Ngày 16-4-1993, Mobifone, mạng di dộng dầu tiên của Việt Nam, chính thức di vào hoạt dộng483. Hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ viễn thông phát triển là co sở dể Việt Nam tiến tới kết nối Internet.

Chiến tranh dã dua Việt Nam tiếp cận với máy tính khá sớm484, nhung cho tới thập niên 1980, “tin học” vẫn là một khái niệm rất xa lạ dối với công chúng. Trong suốt thập niên 1980, khoa

Toán truờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh chỉ dào tạo duợc 143 nguời có khả nang ứng dụng tin học vào quản lý kinh tế. Nam 1988, Tiến sỹ Nguyễn Quang A tiếp xúc với một Việt kiều có liên hệ với một công ty phần mềm của Pháp tên là Genlog. Một liên doanh 50-50 giữa Tổng cục Điện tử và Genlog, lấy tên là Genpacific, ra dời.

Theo ông Nguyễn Quang A: “Mục tiêu ban dầu của chúng tôi là nhận outsourcing phần mềm cho nguời Pháp”. Nhung, kế hoạch này thất bại bởi không làm sao liên hệ duợc với các don dặt hàng. Khi ấy, phải chờ ít nhất bốn muoi phút mới có thể nối duợc một cuộc diện thoại với Paris, còn Air France thì phải hai tuần mới có một chuyến. Genpacific chuyển sang lắp ráp máy tính cá

nhân.

Có khoảng sáu nghìn máy tính loại 286, tốc dộ cực thấp: 8Mhz và bộ nhớ chỉ 20Mb, dã duợc Genpacific sản xuất trong nam 1989. Cho dù, theo ông Nguyễn Quang A, sản phẩm của ông chủ yếu duợc xuất sang Liên Xô, máy tính cá nhân dã duợc Genpacific tặng truờng Nguyễn Ái Quốc và duợc nhiều doanh nghiệp, công sở, truờng học ở Việt Nam trang bị. Sau Genpacific, Công ty 3C của Nguyễn Quang A và FPT bắt dầu kinh doanh máy tính, xã hội Việt Nam không còn phải học chay tin học nữa.

Tháng 8-1990, Giáo su Phan Đình Diệu kêu gọi: “Nhà nuớc cần khuyến khích mọi thành phần kinh tế dầu tu tin học”. Ông cung dề nghị Nhà nuớc dua giáo dục tin học vào các nhà truờng. Từ dầu nam 1990, ở Sài Gòn, tin học bắt dầu duợc ứng dụng trong ngành in ấn.

Chuong trình quốc gia về công nghệ thông tin dề cập dến khả nang “một số hệ thông tin trong nuớc duợc ghép nối với các mạng thông tin quốc tế”485. Tổng cục Buu diện bắt dầu thiết lập mạng Vietpac X.25, cung cấp các dịch vụ truyền dữ liệu chuyển mạch gói công cộng, kết nối với mạng diện thoại tự dộng dã duợc số hóa. Đến cuối nam 1995, các dịch vụ thuê bao kênh X.25 dã dáp ứng nhu cầu dến tất cả các tỉnh lỵ và một số huyện, và cuối nam 1996 dến hon 400 huyện trong cả nuớc.

Khoảng nam 1993, một kỹ su ở Viện Công nghệ Thông tin, ông Trần Xuân Thuận lập ra mạng

T-net với tham vọng tạo ra một mạng truyền dẫn mang tên ông nhung không mấy thành công. Cùng thời gian ấy ở Viện Công nghệ Thông tin, ông Trần Bá Thái, truởng phòng mạng trở thành nguời Việt Nam dầu tiên di tiên phong khi Phòng của ông nhận chuyển giao công nghệ chuyển nhận thu diện tử UUCP từ Úc, lập ra mạng NetNam. Tháng 4-1994, NetNam dã chuyển một lá

thu của Thủ tuớng Võ Van Kiệt cho Thủ tuớng Thụy Điển. Ông Kiệt trở thành nguời Việt Nam dầu tiên từ trong nuớc chính thức gửi email ra nuớc ngoài.

Cuối nam 1995, từ Khánh Hòa, ông Nguyễn Anh Tuấn, giám dốc Trung tâm Tin học Teltic, Buu diện Khánh Hòa, tiếp cận với cả ông Thuận, ông Thái, tự mày mò nghiên cứu công nghệ giao thức truyền thông Internet rồi lập ra mạng VietNet. VietNet thuê cửa ra Úc của NetNam và sử dụng hệ thống diện thoại nội bộ dể kết nối với các thuê bao cá nhân. Từ 31-1-1996, VietNet chính thức hoạt dộng486. Cuối nam 1996, về mặt nhà nuớc, một “taskforce” duợc thành lập dể chuẩn bị kết nối Internet gồm: Chu Hảo, thứ truởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi truờng, Mai Liêm Trực, Tổng cục Buu Điện; Nguyễn Khánh Toàn, thứ truởng Bộ Công an487.

Những diều kiện tối thiểu dể có thể nối mạng dều dã duợc chuẩn bị, lợi ích thì ai cung rõ nhung làm cho các nhà lãnh dạo hết lo sợ là một diều không hề dễ dàng. Thời diểm quyết dịnh kết nối Internet cung là thời diểm chuyển giao thế hệ lãnh dạo ở Việt Nam. Ông Chu Hảo nói: “Từ ông Võ Van Kiệt dến ông Phan Van Khải dều ủng hộ, nhung khó nhất là phải duợc Bộ Chính trị cho phép”. Giáo su Đặng Hữu, từ sau Đại hội VIII, tháng 6-1997, chuyển sang bên Đảng làm truởng Ban Khoa giáo Trung uong. Từ bên trong, các ủy viên Bộ Chính trị lo sợ Internet nhất duợc ông Đặng Hữu tìm cách thuyết phục488.

Theo ông Đỗ Trung Tá, ông Đỗ Muời cung trở thành một nguời ủng hộ, ông Muời nói: “Tôi mà thạo tiếng Anh có khi tôi còn sử dụng Internet nhiều hon các anh vì tôi dọc nhiều hon”. Phó Thủ tuớng Phan Van Khải yêu cầu nhóm phải trực tiếp báo cáo Ban Bí thu. Theo ông Chu Hảo: “Đến ngày hẹn, ông Đỗ Muời dang ở miền Nam, dề nghị chúng tôi báo cáo trực tiếp ông Lê Khả Phiêu, thời gian ấy là ủy viên Thuờng vụ Thuờng trực Bộ Chính trị”.

Gặp ông Lê Khả Phiêu, ông Mai Liêm Trực trình bày về pháp lý, Chu Hảo nói về kỹ thuật, Nguyễn Khánh Toàn báo cáo về dảm bảo an ninh. Đây là giai doạn mà ông LêKhả Phiêu sắp trở thành tổng bí thu, ông tỏ ra khá cởi mở. Giáo su Chu Hảo nói: “Chúng tôi chia sẻ những lo sợ của ông Phiêu cung nhu của các vị trong Ban Bí thu về an ninh, về bí mật quốc gia, sợ van hóa dồi trụy và phản dộng tràn vào Việt Nam. Chúng tôi nói về những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong ngành bảo mật thông tin nhung không dám khẳng dịnh là kiểm soát duợc tất cả. Chúng tôi cho rằng tuờng lửa cung nhu cái khóa, khóa tốt thế nào cung có nguời mở duợc, nên vấn dề quan trọng vẫn là con nguời. Ông Phiêu rất thích lập luận ‘vấn dề quan trọng là con nguời’, ông dồng

ý”.

Tháng 12-1996, Trung uong Đảng khóa VIII họp Hội nghị lần thứ hai bàn về khoa học công nghệ. Ông Đỗ Trung Tá nói: “Tôi mở một phòng máy và dùng so dồ don giản nhất dể ‘giới thiệu Internet và các biện pháp dề phòng’. Các ủy viên dự họp Trung uong duợc Tổng Bí thu Đỗ Muời cho phép tới tìm hiểu về Internet và tuờng lửa. Bằng vài thuê bao Internet nối với server của VDC, tôi cho tải các websites có nội dung tốt xuống cho các uỷ viên Trung uong xem; rồi cho tải những web-sex, các uỷ viên Trung uong giữ ý quay mặt di, tôi cho anh em biểu diễn kỹ thuật ngan các web-sex này lại. Các ủy viên Trung uong nói: Nếu làm duợc nhu thế thì cho mở duợc. Hội nghị Trung uong 2 thừa nhận Internet tải duợc trí tuệ của nhân loại về và tin rằng có thể ngan các nội dung xấu”.

Ngày 5-3-1997, Chính phủ ban hành Nghị dịnh 21 “quy dịnh tạm thời quản lý Internet” theo nguyên tắc “quản lý duợc dến dâu thì phát triển tới dó”489. Ngày 19-11-1997, tại trụ sở Tổng cục Buu diện, 18 Nguyễn Du, Hà Nội, “Lễ kết nối Internet toàn cầu” dã duợc long trọng tổ chức490.

Luân chuyển cán bộ

Ông Lê Khả Phiêu duợc dua lên giữ chức tổng bí thu trong một hội nghị Trung uong, thay vì duợc bầu trong dại hội (12-1997)491. Sau khi nhận chức không lâu, ông Phiêu xuất hiện trong một cuộc họp báo với gần 200 phóng viên trong nuớc và quốc tế. Bộ quân phục cấp tuớng dã duợc thay bằng comple xám, cavat màu sáng, mái tóc vốn lòa xòa phủ trán, che sát cặp mắt nhỏ, duợc xịt keo, chải lật ra phía sau, dể lộ vầng trán rộng. Cuộc họp báo duợc thực hiện vào buổi chiều, duợc ghi hình và sau khi biên tập, duợc phát trong chuong trình thời sự tối của Đài Truyền hình Việt Nam. Ông Lê Khả Phiêu, rõ ràng, dã nỗ lực tạo ra khác biệt với những nguời tiền nhiệm.

Ngày 18-1-1998, khi dến tham Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu tuyên bố: “Dân chủ 100% là hình thức”. Trong nền chính trị của Việt Nam noi mà các ứng cử viên của Đảng thuờng không lo sợ rớt mà chỉ lo mất phiếu mấy phần tram thì phát biểu dó của Tổng Bí thu có rất nhiều thông diệp. Tuynhiên, quyết dịnh mang tính cải cách chính trị ngay sau

dó của ông: “Quy chế dân chủ ở co sở” lại là một diển hình về hình thức492.

Quyền lực thực sự của Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu bắt dầu duợc thể hiện sau Nghị quyết Hội nghị Trung uong 6 lần hai493. Tuy trong Nghị quyết này, ông Lê Khả Phiêu dặt ra tham vọng “nghiên cứu lý luận trong nuớc và thế giới, làm rõ hon mô hình và con duờng di lên chủ nghia

xã hội ở nuớc ta” nhung trên thực tế chỉ có “cuộc vận dộng xây dựng, chỉnh dốn Đảng” và “luân chuyển, diều dộng cán bộ” mới thực sự giúp ông tạo ra những buớc di quyền lực.

Vấn dề luân chuyển, diều dộng cán bộ từng duợc Hội nghị Trung uong 3 494, khóa VIII dặt ra nhu một giải pháp nhằm “bồi duỡng toàn diện, tạo diều kiện cho cán bộ trẻ có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch duợc rèn luyện trong thực tiễn; khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ trong từng ngành, từng dịa phuong, từng tổ chức”. Nhung, kể từ khi Nghị quyết này duợc thông qua (6-

1997), việc luân chuyển cán bộ gần nhu chua thực hiện.

Từ thập niên 1990, vai trò dịa phuong trong hệ thống chính trị Việt Nam càng ngày càng gia tang. Điều này thể hiện qua con số các bí thu tỉnh ủy duợc co cấu vào Trung uong 495. Đặc biệt, dại biểu dịa phuong cung thuờng chiếm hon 80% số dại biểu của các dại hội Đảng, thành phần thực sự có tiếng nói thông qua các lá phiếu. Kinh tế thị truờng dã làm cho con số các tỉnh thành tự túc duợc ngân sách tang lên. Luật Đất dai và Luật Đầu tu bắt dầu tang thẩm quyền duợc cấp dất, cấp giấy phép dầu tu cho tỉnh, thành. Chính quyền dịa phuong bắt dầu có diều kiện dể dộc lập hon với trung uong. Đây cung là giai doạn xuất hiện thuật ngữ “trên bảo duới không nghe”, một câu dùa ý nhị còn dể chỉ trật tự hành chính không còn trung uong tập quyền nữa.

Chính sách luân chuyển cán bộ không chỉ giúp Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu bố trí nhân sự của mình vào các vị trí chủ chốt mà còn dặt các nhà lãnh dạo dịa phuong vào thế phụ thuộc vào ông hon. Đang là nguời dứng dầu một tỉnh, họ có thể bị “luân chuyển” dến một vị trí ngồi choi xoi nuớc496. Các quyết dịnh “luân chuyển” lại chủ yếu duợc thông qua trong Thuờng vụ Bộ Chính trị noi mà tổng bí thu là nguời có tiếng nói quyết dịnh.

Ngay sau khi nhậm chức, ông Lê Khả Phiêu dã dua Bộ truởng Lao dộng và Thuong binh Xã hội Trần Đình Hoan về làm chánh Van phòng Trung uong. Quyết dịnh này duợc coi là nhằm tạo chỗ trống dể có thể dua một ủy viên Trung uong cùng quê Thanh Hóa, bà Nguyễn Thị Hằng, lên bộ truởng Lao dộng và Thuong binh Xã hội. Cuối nam 1999, một ủyviên Trung uong nguời Thanh Hóa khác, ông Tô Huy Rứa phó giám dốc Học viện Chính trị Quốc gia duợc luân chuyển về làm bí thu Thành ủy Hải Phòng. Tháng 2-2000, Bộ truởng Thuong mại Truong Đình Tuyển bị “luân chuyển” về làm bí thu Tỉnh ủy Nghệ An.

Trong tiệc tiễn do Van phòng Chính phủ tổ chức, ông Truong Đình Tuyển dã dọc một bài tho của ông nói rằng, việc ra di của ông don giản vì (Tổng Bí thu) cần “chỗ trống”. Chỗ trống dể dua

Thứ truởng kỳ cựu Vu Khoan rời Bộ Ngoại giao, tạo “chỗ trống” cho ông Nguyễn Dy Niên, cùng quê Thanh Hóa với Tổng Bí thu, lên bộ truởng.

Luân chuyển cán bộ còn ảnh huởng tới các ủy viên Bộ Chính trị: Tháng 1-2000, Truởng ban Kinh tế Trung uong Phan Diễn duợc diều về làm bí thu Quảng Nam Đà Nẵng thay thế ông Truong Quang Đuợc ra Hà Nội làm Truởng Ban Dân vận thay thế ông Nguyễn Minh Triết duợc diều trở lại Sài Gòn làm bí thu497; Bí thu Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Truong Tấn Sang lại phải ra Hà Nội “lấp vào chỗ trống” Truởng Ban Kinh tế của ông Phan Diễn.

Không mấy dịa phuong hài lòng với việc trung uong dua nguời về nắm những vị trí chủ chốt, cho dù, có những nguời duợc diều “về quê” nhu Truong Đình Tuyển, bí thu Nghệ An, Phan Diễn, bí thu Quảng Nam – Đà Nẵng, và có những nguời nhu ông Nguyễn Minh Triết, duợc dua về một noi thế lực hon. Luân chuyển có thể là co hội của nguời này, có thể lại chấm dứt sự nghiệp chính trị của nguời khác. Luân chuyển cán bộ, vì thế, vừa có thể tạo ra dồng minh, vừa tích luy “ân oán” cho ông Lê Khả Phiêu nguời vận hành co chế dó.

“16 chữ vàng”

Ông Lê Khả Phiêu còn phải nhận lãnh trách nhiệm lịch sử trong một giai doạn mà quan hệ dối ngoại, dặc biệt là với Trung Quốc, có rất nhiều thử thách. Nguyên tắc “hai nuớc xã hội chủ nghia phải cùng chống âm muu của dế quốc xóa bỏ chủ nghia xã hội” xác lập truớc Hội nghị Thành Đô (9-1990) dã duợc Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh và những dồng chí của ông dặt trên cả truyền thống cảnh giác nghìn nam trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc498.

Là một vị tuớng quân dội mới bắt dầu làm chính trị, ông Lê Khả Phiêu dã không tránh khỏi những ứng xử thiếu kinh nghiệm với các nhà lãnh dạo co muu của Bắc Kinh. Những quyết dịnh dua ra trong nhiệm kỳ của ông dã từng bị chỉ trích cả trong nội bộ và trên du luận, nhất là dối với những quyết dịnh gay go dể kết thúc dàm phán Hiệp dịnh Biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Nhung, trên nhiều phuong diện, Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu chỉ là nguời thừa kế những chính sách duợc thiết lập từ thời “Thành Đô”.

Đầu nam 1991, ông Đoàn Mạnh Giao duợc cử di Đài Loan. Đây là chuyến di dầu tiên của một quan chức Việt Nam dến một nhà nuớc không duợc chính quyền Trung Quốc công nhận. Đài Loan duợc coi là dối tác dầu tu tiềm nang số một của Việt Nam. Theo ông Đoàn Mạnh Giao: “Đôi bên cần mở một duờng bay thẳng. Lâu nay, từ Đài Loan dến Việt Nam vẫn phải quá cảnh ở Bangkok. Tôi làm dề án, chuẩn bị khôi phục quan hệ kinh tế với Trung Quốc và khôi phục kinh

tế dân gian với Đài Loan. Chủ nhiệm Van phòng Trần Xuân Giá trình lên, ông Võ Van Kiệt dua ra Bộ Chính trị khóa VI, cả Bộ Chính trị dồng ý”.

Sau một thời gian ngắn dàm phán, Việt Nam chấp thuận cho hãng China Airline mở duờng bay thẳng Kao Hung – Tân Son Nhất. Mọi việc chuẩn bị xong, China Airline mở tiệc ra mắt ở khách sạn Rex, Sài Gòn. Tiệc mời lúc 5 giờ 30 chiều, thì 1 giờ 30, Phó chủ nhiệm Van phòng Hội dồng Bộ truởng Hoàng Thúc Tấn nhận duợc diện thoại từ dích thân Tổng Bí thu Đỗ Muời. Ông Đỗ Muời hỏi: “Ai phụ trách vấn dề Đài Loan?”. Ông Tấn: “Thua anh, Đoàn Mạnh Giao?”. “Phải Giao con ông Đoàn Trọng Truyến không? Bảo cậu ấy nói chuyện với tôi”. Ông Giao cầm máy, ông Đỗ Muời hỏi: “Ai cho phép cậu bay với Đài Loan?”. Ông Giao: “Thua, chính bác cho phép, Đề án dã duợc Bộ Chính trị thông qua ạ”. Ông Đỗ Muời: “Đấy là truớc khi khôi phục quan hệ với Trung Quốc”.

Ông Đỗ Muời yêu cầu, ngay trong chiều hôm ấy, Thứ truởng Ngoại giao Trần Quang Co và Đoàn Mạnh Giao phải sang làm việc với Ban Bí thu. Chiều, ông Trần Quang Co sang, cuộc làm việc có cả Thuờng trực Ban Bí thu Đào Duy Tùng và Chánh Van phòng Trung uong Hồng Hà. Đào Duy Tùng nói thẳng: “Truớc thì Bộ Chính trị chủ truong nhu thế, nhung nay kinh tế phải phục tùng chính trị. Không cho Đài Loan bay. Nếu ai cho bay, tôi sẽ ra lệnh cho tên lửa bắn hạ”. Buổi tiệc hôm ấy ở Rex và các chuyến bay từ Đài Loan sang Sài Gòn bị hủy bỏ. Chủ tịch hãng China Airline gọi diện thoại cho ông Đoàn Mạnh Giao than phiền. Ông Giao trấn an: “Chuyện này sẽ duợc xử lý”. Ông Võ Van Kiệt sau dó chỉ dạo lập hồ so cho thấy hàng không Đài Loan bay dến hầu nhu tất cả các nuớc, kể cả bay dến Quảng Châu, Trung Quốc, chứ không chỉ có bay dến Việt Nam dể xin Bộ Chính trị khóa VII xem xét lại.

Ông Đoàn Mạnh Giao nói: “Ông Kiệt là nguời mà những lúc bế tắc luôn vuợt ra khỏi ý thức hệ và ngoại giao kinh diển dể dạt duợc mục dích”. Khi dó, ông Võ Van Kiệt dang thèm khát nguồn vốn ODA từ Đài Loan cho duờng dây 500kV và các công trình hạ tầng dầy tham vọng của ông. Đài Loan có quỹ OECDF có thể cho “những nuớc chậm phát triển có quan hệ kinh tế thực chất với Đài Loan” vay. Theo ông Đoàn Mạnh Giao: “Buổi tối truớc khi tôi di Đài Loan, ông Kiệt gọi lên Van phòng. Tôi lên thấy ông dang ngồi một mình. Ông nói: ‘Qua dó, mày tìm cách vay nam muoi triệu USD cho duờng dây

500kV’. Tôi nói: ‘Không duợc dâu chú oi, quỹ này nguời ta chỉ cho vay cho các vấn dề xã hội’. Ông nói: ‘Vậy mới phải tìm cách’. Tôi sang gặp một quan chức quen của Đài Loan tên là Giang

Bỉnh Khôn, chuyển thông diệp của Thủ tuớng cho Đài Loan, ông Giang nói sẽ báo lên trên và

tính”.

Ít lâu sau, Lâm Thủy Cát, vụ truởng Vụ Á – Thái của Bộ Ngoại giao Đài Loan dến Hà Nội gặp ông Đoàn Mạnh Giao, nói: “Có một việc khẩn thiết tôi muốn bàn: Tổng thống Lý Đang Huy dang ở Indonesia, trên duờng về muốn dừng ở Đà Nẵng và muốn hội kiến với Thủ tuớng Võ Van Kiệt một giờ. Việt Nam có thể bố trí dể Thủ tuớng di tuần du miền Trung ghé qua. Cuộc gặp sẽ duợc giữ hết sức bí mật dể thỏa thuận một số việc, phía Đài Loan, sau cuộc gặp này có thể cho Việt Nam vay từ 300 dến 500 triệu USD”. Ông Giao nói: “Tôi báo lại với Thủ tuớng, chỉ luu ý ông là truyền thông Đài Loan có thể sẽ có duợc tin này và sẽ loan di. Một tuần sau ông Kiệt nói ông Đỗ Muời dã dồng ý. Chua kịp liên hệ với Lâm Thủy Cát thì mấy ngày sau ông Kiệt lắc dầu: “Hỏng rồi, ì xèo hết trong Bộ Chính trị. Cang lắm, không thuyết phục duợc”.

Nhung chính quyền Đài Loan vẫn rất thực tế: Đuờng bay Kao Hung-Tân Son Nhất vẫn duợc mở. Van phòng Kinh tế – Van hóa Đài Bắc tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn duợc thiết lập. Ông Võ Van Kiệt vẫn vay duợc ba muoi triệu USD dầu tiên với lãi suất rất thấp.

Kể từ nam 1991, quan hệ giữa Hà Nội và Trung Quốc bắt dầu duợc thúc dẩy bằng các “chuyến tham hữu nghị”. Các nhà lãnh dạo Trung Quốc tang dần nhịp dộ dến Hà Nội: tháng 11-1992,

Thủ tuớng Lý Bằng; tháng 11-1994, Chủ tịch Quốc hội Kiều Thạch; tháng 6-1996, Tổng Bí thu Đảng, Chủ tịch nuớc Giang Trạch Dân; tháng 11-1996, Thủ tuớng Chu Dung Co. Nhung, có thể nói, phải dến chuyến tham Trung Quốc của Tổng Bí thu LêKhả Phiêu tới Bắc Kinh vào tháng 2-

1999, công cụ “ý thức hệ” mới duợc Bắc Kinh khai thác ở “tầm cao” dể dến gần hon với Hà Nội. Trong cuộc gặp thuợng dỉnh này, Tổng Bí thu Giang Trạch Dân dua ra “hai phuong châm” làm nền tảng cho quan hệ hai nuớc thể hiện trong “16 chữ vàng” và “4 tốt”. “16 chữ vàng” của Giang Trạch Dân là: “Ổn dịnh lâu dài, huớng tới tuong lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”. Và “4 tốt” gồm: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, dồng chí tốt, dối tác tốt”. “Hai phuong châm” cùng với Bản Tuyên bố chung giữa Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu dua ra trong chuyến di duợc hai Đảng dánh giá: “Đã xác dịnh tu tuởng chỉ dạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nuớc trong thế kỷ mới, dánh dấu quan hệ Trung Việt dã buớc vào giai doạn phát triển mới”. Thủ tuớng Phan Van Khải (1997-2006) nói: “16 chữ vàng với 4 tốt chỉ là những lời nói. Tôi làm thủ tuớng cung muốn tạo ra sự tin cậy lẫn nhau nhung Trung Quốc chẳng tin mình, mình thì cung không tin họ”.

Nhung, nhu Đặng Tiểu Bình từng tuyên bố “Trung Quốc làm gì cung có tính toán”. Đây là thời diểm Trung Quốc cần những quyết dịnh của phía Hà Nội dể kết thúc tiến trình dàm phán Hiệp dịnh Biên giới.

Ngày 7-11-1991, trong chuyến di Bắc Kinh của Tổng Bí thu Đỗ Muời và Chủ tịch Hội dồng Bộ truởng Võ Van Kiệt, “Hiệp dịnh tạm thời về việc giải quyết các công việc trên vùng biên giới hai nuớc”, Việt Nam – Trung Hoa, dã duợc ký kết. Đuờng biên giới dất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc dài 1.406 km, có truyền thống lâu dời 499, bắt dầu duợc phân dịnh lại.

Đuờng biên giới truyền thống dó là co sở dể nguời Pháp, sau khi chiếm Bắc Kỳ, dàm phán với triều dình Mãn Thanh, ký Công uớc 26-6-1887 và Công uớc bổ sung 20-6-1895. Đây là hai van bản pháp lýquốc tế dầu tiên xác dịnh biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, duờng biên giới dài 1.406 km, từ Móng Cái dến biên giới Lào – Trung, chỉ có 341 cột mốc. “Lời van công uớc mô tả don giản, không rõ ràng, không phù hợp với thực dịa, bản dồ tỷ lệ nhỏ, nhiều dịa danh, khu vực không thể hiện nhu bãi Tục Lãm, Tài Xẹc, Dậu Gót, nhiều khu vực chua duợc phân giới cắm mốc hoặc cắm mốc quá thua. Ngoài ra, qua hon tram nam, hệ thống mốc cung bị hu hại, xê dịch, phá hủy do chiến tranh và thời gian”500.

Nam 1955, ngay trong giai doạn mà tình hữu nghị Việt – Trung dang duợc mô tả là nhu “môi với rang”, chính quyền Trung Hoa cộng sản dã có ý “dẩy lùi biên giới” sâu vào phía lãnh thổ Việt Nam: “Tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục doạn duờng sắt từ biên giới Việt-Trung dến Y ên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc dã dặt diểm nối ray duờng sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với duờng biên giới lịch sử, coi diểm nối ray là diểm mà duờng biên giới giữa hai nuớc di qua… Cung tại khu vực này, phía Trung Quốc dã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam Quan 100m trên duờng quốc lộ dể xoá vết tích duờng biên giới lịch sử, rồi dặt cột kilômét số 0 duờng bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100m, coi dó là vị trí duờng quốc giới giữa hai nuớc ở khu vực này”501.

Ngày 2-11-1957, Ban Bí thu Trung uong Đảng Lao dộng Việt Nam gửi thu cho Ban Chấp hành Trung uong Đảng Cộng sản Trung Quốc dề nghị hai bên giải quyết vấn dề biên giới trên co sở tôn trọng duờng biên giới lịch sử theo hai Công uớc Pháp – Thanh (1887 và 1895) và mọi tranh chấp có thể giải quyết bằng dàm phán. Tháng 4-1958, Trung uong Đảng Cộng sản Trung Quốc trả lời dồng ý với dề nghị của phía Việt Nam. Điều này có thể duợc coi là một “thắng lợi quan

trọng của quan hệ Trung – Việt” nếu nhu hon một thập niên sau, Trung Quốc không lặp lại những diều mà họ dã làm hồi nam 1955.

Có lẽ ít có một quốc gia to lớn nào lại sử dụng những phuong thức lấn cõi theo kiểu nguời Trung Quốc dã làm ở Việt Nam: “Ở một số dịa phuong, do dịa hình phức tạp, diều kiện sinh hoạt của dân cu Trung Quốc gặp khó khan, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, Việt Nam dã cho muợn duờng di lại, cho dùng mỏ nuớc, cho chan trâu, lấy củi, dặt mồ mả,… trên dất Việt Nam. Nhung, lợi dụng thiện chí dó của Việt Nam, họ dã dần dần mặc nhiên coi những vùng dất muợn này là dất Trung Quốc. Khi xây dựng các công trình cầu cống trên sông, suối biên giới nhu cầu ngầm Hoành Mô, Quảng Ninh, cầu ngầm Pò Hèn, Quảng Ninh, dập Ái Cảnh, Cao Bằng, cầu Ba Nậm Cúm, Lai Châu,… phía Trung Quốc cung lợi dụng việc thiết kế kỹ thuật làm thay dổi dòng chảy của sông, suối về phía Việt Nam, từ dó dịch dần duờng biên giới”502.

Chuyện Trung Quốc tự ý di chuyển, lén lút dập phá, thủ tiêu các cột mốc, lấy tên bản của Trung Quốc dặt cho xóm của Việt Nam… có thể tìm thấy ở bất cứ dịa phuong nào trên vùng biên giới. Họ cung không ngần ngại áp dụng những phuong thức nhu vậy dể lấn chiếm những vùng lãnh thổ nổi tiếng lâu dời của Việt Nam nhu Đồng Đang, thác Bản Giốc.

“Ngày 20-2-1970 phía Trung Quốc dã huy dộng trên 2.000 nguời kể cả lực luợng vu trang lập thành hàng rào bố phòng dày dặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một dập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc dã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc. Khi quan hệ hai bên còn hữu nghị, Trung Quốc dã xây dựng duờng sắt vuợt qua duờng biên giới lịch sử 300m rồi coi diểm nối ray dó là biên giới. Họ trắng trợn nguỵ biện rằng khu vực hon 300m duờng sắt dó là dất Trung Quốc vì không thể có duờng sắt của nuớc này dặt trên lãnh thổ nuớc khác”503.

Đàm phán biên giới Việt – Trung lần thứ nhất diễn ra tại Bắc Kinh ngày 15-8-1974, khi “tình hữu nghị” giữa hai nuớc bắt dầu có những rạn nứt sau chuyến di nam 1972 của Nixon. Sau khi dánh chiếm Hoàng Sa, ngày 19-1-1974, Trung Quốc bắt dầu gia tang các hoạt dộng khiêu khích biên giới504. Đàm phán lần thứ hai, kéo dài từ ngày 7-10-1977 tới tháng 6- 1978, diễn ra khi các vụ khiêu khích vu trang từ phía Trung Quốc tang cao hon505. Đối thoại chấm dứt khi xung dột lên dỉnh diểm bởi vụ “nạn kiều”. Sau cuộc chiến tranh biên giới, kéo dài từ ngày 17-2 dến 5-3- 1979, ngày 18-4-1979, cuộc dàm phán lần thứ ba duợc nối lại tại Hà Nội. Nhung, từ dó cho dến

nam 1991, xung dột vu trang liên tục diễn ra. Theo Bộ truởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, mỗi nam Trung Quốc gâyra hon tám tram vụ khiêu khích biên giới506.

Đàm phán chỉ thực sự bắt dầu ở vòng thứ tu, tháng 10-1992, sau khi Việt Nam bình thuờng hóa quan hệ với Trung Quốc. Ngày 19-10-1993, hai doàn dàm phán chính phủ dã ký thỏa thuận về những nguyên tắc co bản giải quyết vấn dề biên giới lãnh thổ507.

Trên co sở bản dồ và thực dịa, hai bên dua ra duờng biên giới trên thực tế theo nhận thức của mình. Đây là một công việc không hề dễ dàng cho Việt Nam vì phần dất biên giới phía Việt Nam vẫn dầy mìn Trung Quốc. Chiến tranh cung dã buộc dân chúng ở nhiều noi phải rời khỏi những vùng dất sinh sống và canh tác truyền thống. Trong khi dó, các doàn khảo sát từ Hà Nội lên lại chỉ tiến hành “xác lập bản dồ hiện trạng” trong bí mật. Những phần dất mà bản “Bị vong lục ngày 15-3-1979 của Bộ Ngoại giao Việt Nam” mô tả là dã “bị Trung Quốc dùng những thủ doạn xấu xa” dể lấn chiếm trong giai doạn từ nam 1955 dến nam 1978 giờ dây phần lớn duợc gọi là những khu vực “hai bên có nhận thức khác nhau”508. Cả Bộ truởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và truởng doàn dàm phán giai doạn dầu, ông Vu Khoan, dều thừa nhận, các dịa phuong không hài lòng với kết quả này.

Trong khi dó, kể từ nam 1993, Trung Quốc tiếp tục gây xung dột ở nhiều sắc thái khác nhau dể tiếp tục gây áp lực lên các vòng dám phán. Đuờng lên cửa khẩu Chi Ma, huyện Lộc Bình, Lạng Son, phải dừng lại truớc duờng biên 63m. Cho dù cột mốc 44, cắm từ thời Pháp – Thanh vẫn còn, nam 1993, khi tỉnh Lạng Son cho rải dá, lực luợng vu trang Trung Quốc từ phía Ái Điểm,

dã tràn sang dể ngan cản việc thi công. Ngày 28-5, Trung Quốc dua hàng tram binh sỹ có vu trang từ Ái Điểm sang, theo sau là muời lam xe chở dá. Trong khi phía Việt Nam chua kịp phản ứng, hai xe “vuợt biên” sangdổ dá chồng lên doạn công nhân Việt Nam dang thi công. Ngaylập tức bộ dội biên phòng, hải quan, công nhân và nông dân Chi Ma duợc huy dộng ra ngan chặn.

Ngày 11-6-1993, lính Trung Quốc rút. Từ dó, Tổ cột mốc 44 duợc dồn biên phòng Chi Ma thành lập, bảy cán bộ biên phòng dã phải túc trực 24/24, trong gió Chi Ma thổi bạc mặt, trong rét Chi Ma có khi xuống duới dộ 0. Vì bị phía Trung Quốc ngan cản không thể dựng nhà, Tổ cột mốc 44 chỉ có thể dựng một túp lều bằng sáu cọc tre và những thùng giấy carton nằm bên lãnh thổ Việt Nam nam mét.

“Nhật ký” của Tổ ghi nhận ba muoi hai sự kiện tiêu biểu xảy ra xung quanh mốc 44: một lần biên phòng Ái Điểm, Trung Quốc, cho dựng một nhà tạm lấn sang dất Việt Nam hai mét; hai

muoi hai lần lực luợng vu trang Trung Quốc xâm nhập sâu vào dất Việt Nam từ nam dến ba muoi lam mét, bảy lần xâm canh, một lần lén chôn một bia dá sang dất Việt Nam hai muoi mét… Phía bên kia mốc 44, Trung Quốc dựng một bức tuờng dá, dày một mét, cao ba mét, bao bọc dồn Ái Điểm. Trên bức tuờng dó, sâu hoắm những lỗ châu mai, nhìn sang.

Thiếu tá Lục Van Moong, nguời từng là dồn phó Chi Ma bốn nam, nói: “Có rất nhiều chuyện không duợc ghi chép, dó là những cục dá duợc ném sang từ phía bên kia lúc nửa dêm”509. Mỗi tấc dất biên giới trong thời gian này, không chỉ dể cấy lúa, trồng rau mà còn là khát vọng lãnh thổ và ý chí quốc gia của dôi bên. Tại Cao Bằng, nhiều noi, bộ dội biên phòng phải dựng luới B40 cho nông dân cày cấy ở những thửa ruộng giáp biên dể ngan phía Trung Quốc ném dá sang. Ở Hà Giang, cho dến truớc khi tiến trình phân giới cắm mốc thực hiện xong, hầu hết các diểm cao chiến luợc dều dang có quân Trung Quốc chiếm dóng.

Ngày 30-12-1999, sau sáu vòng dàm phán ở cấp chính phủ, muời sáu vòng dàm phán ở cấp chuyên viên, chủ yếu tập trung xử lý 164 khu vực C, hai bên dã ký “Hiệp uớc hoạch dịnh biên giới dất liền”.Theo dó: “Quy thuộc khoảng 114,9 km2 cho Việt Nam (gồm 112,3km2 thuộc khu vực C; 2,6 km2 thuộc khu vực A và B) và khoảng 117,2 km2 thuộc Trung Quốc (trong dó có 114,8 km2 thuộc khu vực C; 2,4 km2 thuộc khu vực A và B)”510. Nhìn qua các con số thì có vẻ nhu “dây là một kết quả công bằng”511. Nhung, trên thực tế, chính quyền dịa phuong, các cán bộ biên phòng và nguời dân nhìn thấy từng tấc dất giờ dây dã thuộc về Trung Quốc. Theo ông Nguyễn Mạnh Cầm: “Khi tôi lên, Cao Bằng nói, những phần dất này lâu nay là của ta sao các anh dể thế này. Tôi phải giải thích là phải theo các nguyên tắc dã thỏa thuận trong quá trình dàm

phán”.

Quá trình “chuyển duờng biên giới từ lời van Hiệp uớc 1999 và bản dồ ra thực dịa, một cách chính xác, rõ ràng và dánh dấu bằng một hệ thống mốc giới chính quy hiện dại” vẫn là một con duờng cam go. Ở 109 “khu vực tồn dọng”, duợc coi là những “khu vực khó, nhạy cảm, có lịch sử tranh chấp lâu dời”, hai bên dã phải tiến hành thêm muời lam vòng dàm phán các loại, “vòng ngắn nhất kéo dài chín ngày, vòng dài nhất hai muoi ba ngày, phiên họp dài nhất ba muoi mốt giờ liền” 512, dể “giải quyết các mâu thuẫn giữa lời van với bản dồ dính kèm Hiệp uớc, giữa bản dồ với thực dịa và sự không rõ ràng của một số từ ngữ trong Hiệp uớc”513.

Một trong những “khu vực nhạy cảm”, cửa khẩu Hữu Nghị, mốc km0 noi duờng biên giới giờ dây di qua vốn là mốc 19 cu của Pháp, cách diểm nối ray 148m về phía Bắc. Đối chiếu với “Bị

vong lục ngày 15-3-1979 của Bộ Ngoại giao Việt Nam” sẽ thấy cột mốc tham chiếu ở khu vực này không phải là “19 cu” mà là “cột mốc 18 nằm cách cửa Nam Quan 100m trên duờng quốc lộ dã bị Trung Quốc ủi nát dể xóa vết tích duờng biên giới lịch sử, rồi dặt cột km0 duờng bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100m”. Nếu 300m từ duờng biên giới lịch sử dến diểm nối ray này là khu vực có “nhận thức khác nhau”, thì việc Việt Nam duợc chia 148m so với phần nuớc lớn Trung Quốc duợc chia 152m là công bằng nhu các nhà dàm phán giải thích. Nhung, phần 300m này là của Việt Nam, nam 1955 bị Trung Quốc lấn vào so với duờng biên lịch sử514.

Tại khu vực thác Bản Giốc: “Theo quy dịnh của Hiệp uớc 1999, luật pháp và thông lệ quốc tế, duờng biên giới di theo trung tuyến dòng chảy phía Nam cồn Pò Thoong, hai bên dã diều chỉnh duờng biên giới di qua cồn Pò Thoong, qua dấu tích trạm thủy van xây dựng những nam 1960, quy thuộc 1/4 cồn, 1/2 thác chính và toàn bộ thác cao cho Việt Nam”515. Thác Bản Giốc là một biểu tuợng mà trong suốt hàng tram nam dã nằm trong tiềm thức của nguời Việt Nam. Bức ảnh nổi tiếng về thác Bản Giốc do nhà nhiếp ảnh Võ An Ninh chụp dã từng ngự trị trong sách giáo khoa, trên các tờ lịch in màu hiếm hoi của miền Bắc thời truớc nam 1975.

Theo “Bị vong lục 15-3-1979 của Bộ Ngoại giao” thì toàn bộ khu vực thác Bản Giốc nằm trong lãnh thổ Việt Nam cho tới ngày 20-2-1970 mới bị phía Trung Quốc “dua 2.000 nguời kể cả lực luợng vu trang” sang lấn chiếm. Các tài liệu lịch sử của nguời Pháp và những nguời dân sống lâu nam ở khu vực Đàm Thủy dều biết rõ toàn bộ thác Bản Giốc nằm sâu trong biên giới Việt Nam chứ không phải là phần duợc “quy thuộc” nhu các nhà dàm phán trong thập niên 1990 giải

thích516.

Bộ truởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thừa nhận: “Anh em Cao Bằng cung phản ứng, nhung muốn thỏa thuận duợc thì mình cung phải nhuợng bộ”. Tại khu vực thác Bản Giốc, theo quy dịnh của Hiệp uớc 1999, duờng biên giới di theo trung tuyến dòng chảy phía Nam cồn Pò Thoong. Ông Nguyễn Mạnh Cầm giải thích: “Sở di chia thác Bản Giốc nhu vậy là vì truớc dó mình dã thỏa thuận nguyên tắc ‘duờng biên giới di theo trung tuyến dòng chảy’. Nguyên tắc này do anh Vu Khoan trực tiếp dàm phán thỏa thuận với Đuờng Gia Triền. Tất nhiên là có xin ý kiến Bộ Chính trị”.

Theo ông Vu Khoan: “Bản thân vấn dề là quá phức tạp, chúng tôi phải lần mò từng mét dất. Nam 1991, thỏa thuận nguyên tắc mở ra dàm phán biên giới. Nam 1992 bắt dầu dàm phán nguyên tắc, ông Võ Van Kiệt chỉ dạo trực tiếp cụ thể và phải bàn, quyết dịnh tập thể. Nhiều nguời không

hiểu, một con sông ở biên giới hai nuớc thì phải chia dôi. Thực tế lịch sử có những diều mình nói cung không dúng”. Ông Nguyễn Mạnh Cầm thừa nhận: “Nam 1993, khi thông qua những nguyên tắc co bản giải quyết vấn dề biên giới, thấy rằng việc phân chia theo trung tuyến dòng chảy là một nguyên tắc hợp lý. Lúc bàn nguyên tắc này, Bộ Chính trị chua nghi tới những truờng hợp cụ thể nhu Bản Giốc”.

Theo Thủ tuớng Phan Van Khải: “Thác Bản Giốc mình không thể nào lấy hết. Đại tuớng Võ Nguyên Giáp không chịu nhung kéo dài quá thì không xong toàn cục. Bãi Tục Lãm họ có ý dồ lấn thật. Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu và Cố vấn Đỗ Muời cung phải dấu với Trung Quốc trên tình hữu hảo mới duợc nhu vậy. Tôi, ông Vu Khoan và ông Lê Khả Phiêu dã dấu tranh rất cang thẳng nhung dôi bên cung phải có nhân nhuợng, chẳng thà mình có một phân dịnh sau này còn có co sở dể dấu tranh”.

Việc hoạch dịnh biên giới, cụ thể là phân chia 227 km2 nằm trong 164 khu vực có tranh chấp, hoặc có nhận thức khác nhau về huớng di của duờng biên giới, gọi là khu vực C duợc quyết dịnh trong nhiệm kỳ của Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu và Thủ tuớng Phan Van Khải. Tuong nhuợng là diều không thể tránh khỏi trong các cuộc dàm phán, nhung tuong nhuợng ở Hữu Nghị Quan, thác Bản Giốc, những noi mà từ xa xua các nhà nuớc Việt Nam dều dã khẳng dịnh chủ quyền và trong tiềm thức nhân dân, dã trở thành một phần lãnh thổ thiêng liêng quả là những quyết dịnh khó phân công, tội.

Còn một sự nhuợng bộ khác mà chắc chắn lịch sử rồi sẽ có ýkiến dó là nhuợng bộ trên diểm cao 1509, Vị Xuyên, Hà Giang.

Ngày 16-5-1984, sau muời tám ngày dùng một lực luợng lớn tấn công, Trung Quốc dã chiếm và chốt giữ hai muoi chín diểm dọc biên giới Việt Nam, trong dó có diểm cao 1509. Hàng ngàn nguời lính Việt Nam dã hy sinh trong các dợt phản công lấy lại hai muoi cao diểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên bị Trung Quốc chiếm dóng từ nam 1984. Nghia trang Vị Xuyên, Hà Giang, có

1680 ngôi mộ. Trong dó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh Biên giới, da số hy sinh trong giai doạn 1984 – 1985, có nguời hy sinh nam 1988 khi tái chiếm diểm cao 1509. Giai doạn 1984 – 1985, theo ông Nguyễn Thanh Loan, nguời trông coi nghia trang: “Cứ nửa dêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau”.

Theo Đại tá Phó chỉ huy truởng Biên phòng Hà Giang Hoàng Đình Xuất: “Từ khi chiếm duợc diểm cao 1509, Trung Quốc cho xây dựng trên dỉnh một pháo dài quân sự. Ở phía bên kia, Trung

Quốc xây duợc duờng xe hoi lên tận dỉnh trong khi bên mình dốc, hiểm trở. Theo nguyên tắc mà hai bên thống nhất, duờng biên giới di qua dỉnh, cắt dôi pháo dài mà Trung Quốc xây dựng trên cao diểm này, nhung khi hoạch dịnh biên giới, phía Trung Quốc cho rằng, dây là một khu vực có ý nghia thiêng liêng nên họ xin duợc giữ lại toàn bộ pháo dài dể làm du lịch. Đau xót là các nhà lãnh dạo của chúng ta dã dồng ý. Phần Việt Nam nhuợng Trung Quốc ở dây tuy chỉ có 0,77 hecta nhung, 1509 là một vị trí chiến luợc. Từ trên pháo dài ấy có thể nhìn thấy từng chiếc ô tô ở thị xã Hà Giang”.

Tuy không bình luận trực tiếp truờng hợp diểm cao 1509, nhung Bộ truởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm giải thích: “Tôi nghi, các anh ấy cung biết, nhuợng một tấc dất là có tội, nhung với một nuớc lớn nhu Trung Quốc thì tranh chấp phải duợc giải quyết dể có duợc một biên giới hòa bình. Truớc dó không ngày nào là không có khiêu khích”. Chính quyền Trung Quốc dã liên tục gây sức ép, từ cả những việc nhỏ mọn nhu ném dá vào những nguời dân Việt Nam cày cấy trên lãnh thổ bên biên giới của mình. Điều này de dọa sự ổn dịnh mà chính quyền Việt Nam kỳ vọng nên không dám bảo luu những “khu vực nhạy cảm” nhu thác Bản Giốc, Hữu Nghị Quan… Theo ông Vu Khoan: “Bảo luu là mình luôn phải sống trong nom nớp”.

Đuờng biên giới truớc dây chỉ có 341 cột mốc, nay duợc dánh dấu chi tiết hon bằng 1.971 cột mốc, với 1.378 vị trí mốc chính và 402 vị trí mốc phụ. Theo ông Nguyễn Hồng Thao: “Kết quả này là sự thể hiện sinh dộng của mối quan hệ dối tác hợp tác chiến luợc toàn diện Việt Nam – Trung Quốc theo phuong châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt”(VNN). Nguyễn Hồng Thao là thành viên của Đoàn dàm phán, ông ấy có thể chỉ nhắc lại “phuong châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt” nhu một cái máy ngoại giao. Nhung nguời dân Việt Nam thì không mấy ai thiếu trải nghiệm dể hiểu sâu về nguời láng giềng tự cho là tốt dó.

Việt Nam dã phải phân chia biên giới phía Bắc trong thế yếu. Y ếu không chỉ vì dàm phán với một dối tác to lớn hon mình gấp nhiều lần, với một chính quyền rất khó luờng, mà còn vì, toàn bộ quá trình dàm phán, hoạch dịnh và phân giới cắm mốc dều duợc tiến hành trong bí mật. Trí tuệ của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nuớc không duợc tập hợp. Sức mạnh của du luận không duợc sử dụng dể vạch trần những thủ doạn khiêu khích của Bắc Kinh. Sự hiểu biết thực dịa của nguời dân biên giới dã không duợc khai thác dể giúp Việt Nam giữ từng tấc dất.

Hiệp dịnh thuong mại Việt-Mỹ

Cung nam 1999, trong khi mang “Phuong châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt” về từ một láng giềng nhiều thủ doạn, Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu lại dánh mất co hội ký hiệp dịnh thuong mại với một dối tác tiềm nang: Hiệp dịnh Thuong mại Việt – Mỹ.

Tại tiểu bang Ohio (Mỹ), sau khi thông báo quyết dịnh dỡ bỏ lệnh cấm vận của Tổng thống Bill Clinton với Bộ truởng Lê Van Triết, Bộ truởng Ron Brown dề nghị bộ thuong mại hai nuớc lập ra tổ công tác chuẩn bị cho quan hệ song phuong. Brown cho biết luôn là ông sẽ lập nhóm USTA do bà Barshefsky làm nhóm truởng. Khi trở về Việt Nam, Bộ truởng Lê Van Triết dến thẳng phủ thủ tuớng, chờ ông ngoài Thủ tuớng còn có Bộ truởng Đậu Ngọc Xuân, Bộ truởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm.

Ông Triết kể chi tiết cuộc trò chuyện với Ron Brown. Ông Kiệt hỏi: “Theo anh, diều này sẽ tác dộng dến việc mở cửa của Việt Nam nhu thế nào?”. Ông Triết: “Theo tôi, nó phù hợp với chủ truong da phuong hóa, thêm bạn bớt thù. Chắc chắn sẽ có một số anh chua nhất trí, có anh sẽ phân vân, nhung mình mà lẩn quẩn thì không những mất co hội mà còn ảnh huởng dến việc mở rộng quan hệ với những dối tác khác”. Ông suy nghi rồi nói: “Các anh nghiên cứu ngay xem quyết dịnh bỏ cấm vận sẽ tác dộng dến việc Việt Nam mở rộng quan hệ với các nuớc nhu thế nào. Phần ngoại giao, anh Cầm phải có kế hoạch mở rộng quan hệ da phuong ngay sau khi Mỹ chính thức tuyên bố. Anh Triết chuẩn bị tờ trình, trình Bộ Chính trị xin chủ truong cho dàm phán ký kết hiệp dịnh thuong mại với Mỹ”. Ông Triết hỏi: “Ký một hiệp dịnh song phuong nhu với các nuớc?”. Ông Kiệt nói: “Đúng!”.

Ông Lê Van Triết kể: Tôi về làm phuong án dàm phán, chuẩn bị xong, tôi mời dại diện Bộ Ngoại giao, Tài chánh, Ngân hàng, Bộ Kế hoạch Đầu tu… tới họp và góp ý. Van phòng Trung uong cung thông báo nam ngày sau dó Bộ Chính trị sẽ nghe trình bày. Tại cuộc họp Bộ Chính trị, tôi trình bày xong, ông Đỗ Muời nói: “Y êu cầu các bộ có phản biện truớc”. Bộ truởng Kế hoạch Đầu tu Đậu Ngọc Xuân vun xới mạnh. Bộ truởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm phát biểu thận trọng. Thứ truởng Bộ Tài chánh Chu Tam Thức thì chừng mực. Nghe xong, ông Đỗ Muời phát biểu rất cang: “Chúng ta dã dổi mới thành công, các nuớc dều thừa nhận, dời sống khá hon có cần bàn tay của Mỹ?”. Ông Đậu Ngọc Xuân nói: “Sự giúp dỡ của Mỹ là cần thiết”. Ông Đỗ Muời: “Mình hoàn toàn dộc lập, cần gì phải giúp dỡ. Việc gì phải ký hiệp dịnh thuong mại?”.

Hôm ấy, theo chỉ dạo của anh Kiệt, Bộ Thuong mại trình một lúc hai dề án: một dể dàm phán gia nhập W TO, một dể ký BTA 517. Nhung, theo ông Triết, với cả hai, ông Đỗ Muời nói: “Việt Nam còn nghèo, hàng hóa sản xuất tỷ trọng bao nhiêu, an thua gì, ra nó dè chết ngay lập tức. Cái thứ ba, mình xua giờ chủ yếu quan hệ với các nuớc xã hội chủ nghia, chỉ am hiểu xã hội chủ nghia. Giờ quan hệ với nguời ta, bị buộc phải theo những quy dịnh của nguời ta mình càng mất dộc lập”. Bấy giờ ông Triết mới nhận ra lý do ông Võ Van Kiệt mời bằng duợc Cố vấn Phạm Van Đồng tham gia phiên họp này. Theo dề nghị của ông Kiệt, Cố vấn Phạm Van Đồng phát biểu ngắn: “Bây giờ là thời kỳ toàn cầu hóa, ai cung phải có quan hệ với các quốc gia. Đuờng lối da phuong hóa mà ta dã di là dúng. Đã dúng thì cứ tiếp tục. Thời dại này không ai còn tự cung, tự túc. Có gì mà không dám làm an với Mỹ với W TO”.

Ông Kiệt tiếp lời: “Tôi tán thành ý kiến anh Đồng. Xu thế dó là không thể tránh khỏi. Nói dể anh Muời yên tâm, tiền thân của W TO là GATT, một tổ chức mà Liên Xô là sáng lập viên, lúc dầu có ba muoi quốc gia. Chỉ khi có khối SEV, Liên Xô mới rút ra. Bây giờ nuớc Nga cung muốn trở lại W TO, làm don xin mà họ dã chấp nhận dâu. Những nuớc tham gia dều theo những nguyên tắc nhất dịnh duợc hình thành bằng sự dóng góp của các thành viên. Đã có 100 nuớc tham gia, có những nuớc yếu hon Việt Nam, nhiều nuớc còn phải sắp hàng. Anh Đồng rất dúng, Việt Nam tuy còn yếu, hàng hóa chua nhiều, chua hiểu hết quy luật. Nếu mình dứng ngoài thì sẽ nhu cu. Tham gia vào thì dội ngu mới truởng thành. Mới hiểu thị truờng, luật pháp ra sao mà ứng phó. Phải tham gia dể có tiếng nói của mình, còn nếu dứng ngoài thì họ quyết sao mình chịu vậy. Trung Quốc dã gửi hàng tram nguời di dàm phán lâu nay mà vẫn chua duợc. Giữ gìn chế dộ là nhiệm vụ của mình, nhung không thể giữ chế dộ bằng cách không choi với ai cả”.

Ông Phạm Van Đồng tiếp: “Anh Muời lo lắng mình bị lép vế cung có lý vì mình còn yếu. Nhung, tôi thì tôi không sợ. Nhu anh Kiệt nói, phải vào hang mới bắt cọp”. Ông Đỗ Muời không kết luận. Ông Phạm Van Đồng dề nghị: “Bộ Thuong mại và Bộ Ngoại giao hoàn chỉnh phuong án, dể báo cáo lại”.

Tháng 5-1996, ông Nguyễn Đình Luong tháp tùng ông Lê Van Triết di Washington, DC., gặp Charlene Barshefsky, truởng Đại diện Thuong mại Mỹ. Thông diệp mà Barshefsky chuyển cho ông Triết vẫn là Hoa Kỳ sẵn sàng ký hiệp dịnh thuong mại song phuong. Ông Luong nói: “Khi về nhà, tôi biết số phận của mình. Tháng 8-1996, tôi chuẩn bị một tờ trình, phân tích bối cảnh quốc tế, phân tích những ý dồ của Hoa Kỳ dối với Việt Nam rồi dề ra nam nguyên tắc dể bộ

truởng ký trình thủ tuớng. Ông Triết dua ra lấy ý kiến trong Bộ, một số cán bộ chủ chốt không dồng ý, lấy lý do, “không cần bàn nguyên tắc, cần bàn cụ thể thôi”, ông Triết cung phân vân chua ký. Phải một tháng sau, truớc giờ ông Lê Van Triết ra sân bay di nuớc ngoài, tôi nói: “Anh ký di, Van phòng Chính phủ giục”. Ông ký. Chiều tôi mang lên Van phòng Chính phủ. Sáng hôm sau, Van phòng gọi: Luong oi, báo tin mừng cho mày, anh Sáu (Võ Van Kiệt) chỉ ghi một chữ: ‘Đồng ý’, viết từ bên này trang giấy kéo sang tới bên kia”.

Đàm phán Việt- Mỹ, theo ông Nguyễn Đình Luong: “Lên bờ xuống ruộng. Nam nam cực kỳkhó khan. Khó nhất là vì ngay từ khi bắt dầu, ông Võ Van Kiệt dã không còn ở vị trí quyết dịnh. Trong các vị lãnh dạo, số nguời dồng ý không nhiều, lý do: dây là vấn dề nhạy cảm, nhiều nguời muốn mình không trắng, không den, công duợc huởng, tội không phải mình. Tôi là một quan chức bé tí. Nhung cuộc họp nào cung phải có mặt, vì viết bài, sửa bài cung tôi. Bộ Chính trị họp xong bảo chuẩn bị bài ra Ban Chấp hành. Cứ tiếc, ông Kiệt không còn làm Thủ tuớng nữa”.

Lúc ấy trên Bộ Chính trị còn có ba ông cố vấn: Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Võ Van Kiệt. Ông Luong nói, chúng tôi gọi tổng bí thu là “hoàng thuợng”, trên “hoàng thuợng” là “vuong gia”.

Truớc khi quyết, “hoàng thuợng” còn phải xem ý “vuong gia”. “Vuong gia” lại có hai phía, nguời ủng hộ quyết liệt, nguời thì không. Theo ông Luong: “Cứ mỗi khi họp Bộ Chính trị, chúng tôi lại phải hỏi Van phòng: ông Kiệt có ra họp không. Có mặt ông Kiệt thì cán cân sẽ khác. Từ dầu, quan diểm của ông Kiệt dã rất rõ ràng: phải bình thuờng hóa với Mỹ, ký Hiệp dịnh Biên giới với Trung Quốc, ký Hiệp dịnh thuong mại Việt-Mỹ. Trong cuộc họp, có khi ông mở dầu, nhung thuờng, ông nghe hết các ý kiến. Cho dù các ý kiến trong cuộc họp phát biểu theo chiều huớng nào thì ý kiến của ông Kiệt vẫn là phải ký”.

Ngày 30-8-1999, ông Nguyễn Đình Luong sang Washington, D.C., hoàn tất van bản dể chuẩn bị ký. Theo ông Luong: Ngày 1-9, khi tiếp ông Luong tại phòng làm việc, Phó dại diện thuong mại Hoa Kỳ Richard Fisher nói: “Luong, tôi hỏi ông một câu thôi: phía Hoa Kỳ dịnh ký BTA tại Hội nghị APEC 518, Việt Nam có ký không?”. Ông Luong nói: “Chắc chắn ký với diều kiện ông giải quyết cho tôi muời vấn dề”. Thực ra, theo ông Luong: “Muời vấn dề mà tôi dề nghị ấy chỉ là tiểu tiết nhung các nhà lãnh dạo bên Đảng dòi giải quyết”. Fisher nói: “Ông về báo với lãnh dạo của ông, nếu Việt Nam quyết dịnh ký tại Auckland, có sự chứng kiến của Bill Clinton thì những vấn dề còn lại sang dó sẽ duợc giải quyết hết”. Hội nghị APEC cấp bộ truởng dự kiến nhóm họp vào

ngày 9 và 10-9-1999 và cuộc gặp cấp cao lần thứ 11 sẽ diễn ra ngày 12 và 13- 9-1999 tại

Auckland, New Zealand.

Ông Nguyễn Đình Luong nói tiếp: “Tôi về báo cáo. Bộ Chính trị họp dồng ý nhung chua ra thông báo. Hai ngày truớc khi APEC nhóm họp, phía Hoa Kỳ cử bà Ngoại truởng Madeleine Korbelová Albright sang Hà Nội. Albright sang, chỉ làm một việc duy nhất là thuyết phục ký. Bill Clinton muốn gây tiếng vang, ông ta muốn kết thúc trang sử quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ tổng thống của mình. Nếu việc ký kết thành công, tháng 11-1999, Bill sẽ sang tham Việt Nam luôn. Nguời Mỹ khi ấy còn có một mục tiêu khác: dàm phán Mỹ – Trung dang bế tắc sau chuyến di của Chu Dung Co, Bill Clinton muốn việc ký BTA với Việt Nam nhu một tín hiệu gửi tới Bắc Kinh”.

Ông Võ Van Kiệt nhận duợc những thông tin này ngay khi ông Nguyễn Đình Luong chua về tới Hà Nội. Ngay 05-9- 1999, từ Thành phố Hồ Chí Minh, ông viết thu gửi Bô Chinh tri, xin vắng mặt phiên họp ngay 7-9-1999 ban vê Hiêp dinh Thuong mai Viêt-My và “xin phat biêu voi Bô Chinh tri môt sô y kiên”. Ông Kiệt cho biết, nhung y kiên nay, ông dã trao dổi với ông Nguyên Manh Câm tai Ha Nôi trong lần gặp tuần truớc dó. Ông Võ Van Kiệt viết: “Nên luu ý nhung diên biên trong quan hê My – Trung va nên tinh toi tinh hinh chinh tri nôi bô cua My. Chung ta không dat vân dê nhât thiêt, bang moi gia phai ky nhanh hiêp dinh nay nhung nêu co diêu kiên thi nên ky som dê phia My co thê phê chuân hiêp dinh truoc bâu cu”. Ông Kiệt cung dua ra một số lập luận dể cho thấy việc hai nuớc ký hiệp dịnh tại một noi thứ ba, Auckland, New Zealand, nhân Hôi nghi APEC la “binh thuong va ngay cang thông dung”.

Theo ông Nguyễn Mạnh Cầm: “Ngày 7-9-1999, Bộ Chính trị họp dồng ý ký hiệp dịnh tại Auckland. Anh Phiêu dã rất hào hứng nói, nên thuởng gì cho anh em dàm phán. Tôi nói khoan dã anh ạ, chờ xem thế nào, nhỡ nguời Mỹ lật lọng”. Nguời Mỹ không lật lọng nhung nhà ngoại giao lão luyện nguời Mỹ, bà Albright, dã phạm một lỗi nhỏ góp phần làm hỏng việc lớn. Muời giờ sáng ngày 8-9-1999, gặp Ngoại truởng Nguyễn Mạnh Cầm, bà Albright duợc ông Cầm xác nhận “sẽ ký”; hai giờ chiều gặp Thủ tuớng Phan Van Khải, ông Khải vui vẻ trả lời: “Sẽ ký”.

Có lẽ, nghi sứ vụ dã hoàn thành, cho nên nam giờ chiều hôm ấy, khi hội dàm với Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu, thay vì chỉ dề cập dến việc ký kết BTA, bà Albright dã buột mồm hỏi: “Thế giới giờ chỉ còn bốn nuớc xã hội chủ nghia, theo ông, có tiếp tục giữ duợc không?”. Sau khi khẳng dịnh

với bà Albright, “chủ nghia xã hội sẽ tiếp tục phát triển thắng lợi”, Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu gặp hai ông cố vấn Đỗ Muời và Lê Đức Anh. Mọi việc bắt dầu thay dổi.

Ông Đỗ Muời thừa nhận: “Buổi chiều, khoảng nam giờ, truớc ngày di họp APEC, anh Phan Van Khải sang gặp tôi, nói: ‘Anh Muời ạ, mai tôi di, anh cho ký di’. Tôi bảo chua duợc. Mai anh gặp Clinton, tôi dề nghị anh nói ba diểm: Chúng tôi muốn ký trong nhiệm kỳ của ngài nhung hiệp dịnh phức tạp quá không nhu hiệp dịnh chúng tôi ký với EU, nên còn một số vấn dề trong Đảng và Chính phủ có ý kiến khác nhau. Tôi dề nghị ngài chỉ thị cho phái doàn dàm phán phía Mỹ cùng chúng tôi bàn tiếp những vấn dề dó rồi sẽ ký. Ký duợc trong nhiệm kỳ của ngài thì tốt, nhung nếu chua ký duợc thì truớc khi ngài nghỉ, mời ngài sang tham Việt Nam dể quan hệ giữa ngài và Việt Nam có truớc, có sau”.

Truớc dó, theo ông Đỗ Muời: “Hiệp dịnh nó dày thế này, Bộ Chính trị ít nguời dọc. Tôi có thời giờ, dọc thấy nhiều vấn dề quá. Tôi gọi các vị lãnh dạo dến, nói: ‘Cái này mới quá. Đây là hợp tác toàn diện chứ dâu có phải chỉ là thuong mại. Tôi dề nghị Bộ Chính trị bàn tiếp’”.

Theo ông Nguyễn Đình Luong: “Hôm sau, 8-9-1999, truớc giờ chuyên co chở Thủ tuớng Phan Van Khải, Bộ truởng Thuong mại Truong Đình Tuyển và Ngoại truởng Nguyễn Mạnh Cầm di

Auckland, tôi nhận duợc diện: Ông Luong ngồi dấy, chờ có lệnh mới di”. Ông Luong chờ, ngày thứ nhất Bộ Chính trị chua họp, ngày thứ hai nghe tình hình khó khan. Ngày thứ ba, quyết dịnh không ký. Ngày thứ tu, tôi về. Vừa tới nhà dã thấy chuyên viên trong vụ ngồi dợi, bảo “lên van phòng Ba Dung ngay”. Ông Luong chạy lên thấy Phó Thủ tuớng Nguyễn Tấn Dung dang nhan

nhó.

Ông Lê Khả Phiêu giải thích về việc trì hoãn ký BTA một cách thận trọng: “Tôi bảo anh Phan Van Khải cứ di, mời Tổng thống Bill Clinton sang, sẽ ký. Lúc dó có chế dộ cố vấn, dù sao cung phải tôn trọng. Trong Bộ Chính trị, tuyệt dại da số cung chua dồng ý. Ta không duợc chuẩn bị kỹ. Có hai chuong họ tự dua vào, nam thành bảy chuong. Truớc những vấn dề quốc tế khi có những ý kiến khác nhau thì phải dảm bảo chín muồi cả về nội dung lẫn kỹ thuật và phải tôn trọng tính tập thể”.

Trong nhiều tình huống “tập thể” chỉ là noi pha loãng trách nhiệm cho các cá nhân. Phiên họp Bộ Chính trị mang tính quyết dịnh này diễn ra khi những nguời am hiểu quá trình dàm phán nhất nhu ông Phan Van Khải, Truong Đình Tuyển (ủy viên Trung uong thuờng duợc mời dự),

Nguyễn Mạnh Cầm dều dang ở Auckland. Ông Đỗ Muời chỉ tay hỏi: “Các anh dã dọc chua mà biểu quyết? Các anh biểu quyết bán nuớc à?”.

Đúng nhu ông Đỗ Muời nói, trong Bộ Chính trị rất ít nguời dọc và gần nhu không có ai dọc kỹ nhu ông. Ông Nguyễn Đức Bình buông một câu: “Toàn cầu hóa chỉ dem lại dói nghèo”. Trong khi ông Nguyễn Phú Trọng luu ý về “diễn biến hòa bình”. Tuy không có duợc vai vế nhu Đào Duy Tùng nhung từ khóa VIII, ông Nguyễn Đức Bình trở thành “nhà lý luận hàng dầu của Đảng”. Theo ông Nguyễn Đình Luong, trong suốt quá trình dàm phán, mỗi khi xin ý kiến Bộ Chính trị, ông Nguyễn Đức Bình lại nói: “Chúng ta không chống toàn cầu hóa nhung chỉ tham gia phong trào toàn cầu hóa do vô sản lãnh dạo chứ không nên tham gia toàn cầu hóa do giai cấp tu sản lãnh dạo hiện nay”.

Cung theo ông Nguyễn Đình Luong: “Chúng tôi rất khó dể biết ý kiến thật sự của ông Lê Đức Anh. Không chống BTA nhung ông Lê Đức Anh nói: nên ký Hiệp dịnh Biên giới với Trung Quốc truớc khi ký Hiệp dịnh Thuong mại Việt – Mỹ. Trong khi dó, nhiều ủy viên Bộ Chính trị nhận duợc những ‘thông tin mật’ từ Tổng cục II: Trung Quốc phản ứng rất xấu nếu ký hiệp dịnh thuong mại”519. Theo ông Phan Van Khải, khi ông Đỗ Muời dặt lại vấn dề về BTA, ông Lê Đức Anh dã dồng ý với ông Muời là chua ký. Tại Auckland, theo ông Phan Van Khải, ông và Bill Clinton vẫn gặp nhau. Clinton biết rõ nội tình Việt Nam nên cả hai dều không nhắc tới BTA. Phó Thủ tuớng Nguyễn Mạnh Cầm nói: “Tôi tiếc dứt ruột. Nam 1999, Bill Clinton muốn ký truớc mặt các nhà lãnh dạo dủ cả phuong Tây lẫn phuong Đông. Khi ấy các tập doàn sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ chỉ chờ có hiệp dịnh là nhảy vào Việt Nam. Mình quyết dịnh không ký, mất biết bao nhiêu co hội”. Những thỏa thuận dạt duợc với Mỹ dã giúp Trung Quốc gia nhập W

TO vào tháng 11-2001520. Thị truờng 1,2 tỷ dân này dã có một sức hút to lớn dối với các nhà dầu tu. Nam nam sau, nam 2006, Trung Quốc trở thành quốc gia có mức tang truởng cao nhất thế giới: 10,7% so với nam 2005.

Theo ông Nguyễn Mạnh Cầm: “Mất thêm một nam dàm phán, phía Mỹ cung chấp nhận một số dề nghị của ta nhung dồng thời cung bắt mình phải chấp nhận thêm những yêu cầu của họ”. Mãi tới ngày 14-7-2000, Hiệp dịnh Thuong mại Việt – Mỹ mới duợc ký ở W ashington, khi nhiệm kỳ của Tổng thống Bill Clinton chỉ còn chua dầy 6 tháng.

Về tổng thể, theo Thủ tuớng Phan Van Khải: “So với những nội dung dịnh ký nam 1999, Hiệp dịnh Thuong mại (BTA) Việt – Mỹ ký nam 2000 không dạt duợc thêm tiến bộ nào”. Nhung, về

mặt thời gian, thất bại nam 1999 dã dánh mất của Việt Nam hon hai nam co hội. Ngày 4-10-

2001, Thuợng viện Mỹ mới thông qua BTA và hai tuần sau, ngày 17-10-2001, duợc Tổng thống G.W .Bush phê chuẩn. Cứ mỗi nam chậm trễ, nguời dân Việt Nam phải chịu thiệt hại hon 1,5 tỷ

USD521.

Bill Clinton và Lê Khả Phiêu

Gần cuối nhiệm kỳ của mình, Tổng thống Bill Clinton tham chính thức Việt Nam. Ông là vị tổng thống Mỹ thứ hai dến noi mà ông nói, giờ dây làtên của một dất nuớc chứ không chỉ là một cuộc chiến tranh, và là tổng thống Mỹ dầu tiên tới Hà Nội. Tại dây, Bill Clinton dã duợcdón tiếp bằng hai thái dộ có thể nói là trái nguợc nhau, một của nguời dân và một của các nhà lãnh dạo trong các nghi lễ dón ông chính thức.

Bill Clinton và tùy tùng tới sân bay Nội Bài lúc 11 giờ dêm ngày 16-11-2000. Điều ngạc nhiên là vị tổng thống của quốc gia mà chính quyền dang coi nhu kẻ thù lại duợc hàng ngàn nguời dân Hà Nội và các dịa phuong lân cận dứng chờ trong dêm lạnh dọc hai bên duờng cao tốc Thang

Long – Nội Bài. Duờng nhu cảm kích truớc sự chào dón dó, Tổng thống Clinton dã bật dèn trong khoang xe của mình dể vẫy tay dáp trả nguời dân Hà Nội. Dân chúng cung dã chen chúc dến khu Van Miếu dể nhìn thấy Bill Clinton. Hai hôm sau, khi rời Hà Nội dến Sài Gòn cung vào lúc muời một giờ dêm, Bill Clinton lại duợc nguời dân dứng chờ và reo hò khi thấy ông xuất hiện từ sân bay Tân Son Nhất.

Trong khi dó, Bộ Chính trị dã phải tính dến từng nụ cuời, cái bắt khi dón vợ chồng Tổng thống Mỹ. Thủ tuớng Phan Van Khải kể, khi tiếp Clinton, ông dã không cuời và bàn tay thì chỉ dua ra nhẹ mà không nắm lại. Ông Nguyễn Đức Hòa, trợ lý của ông hỏi: “Nguời ta dã sang tận dây, tiếc gì anh không nở một nụ cuời với họ?”. Ông Khải nói: “Không duợc dâu mày oi, Bộ Chính trị dã thống nhất là không duợc cuời”522. Chiều 17-11-2000, một ngày truớc khi Tổng thống Bill Clinton nói chuyện với sinh viên ở truờng Đại học Quốc gia Hà Nội, Tuớng Nguyễn Chí Trung, trợ lý của Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu dã mấy lần xuống “quán triệt” với Ban Giám dốc các nghi thức, khi nào thì dứng dậy, khi nào vỗ tay.

Bill Clinton là một nhà hùng biện, bài nói chuyện ngày 17-11-2000 tại hội truờng Đại học Quốc gia Hà Nội của ông duợc chuẩn bị kỹ. Thay vì theo kịch bản, sinh viên dã vỗ tay gần nhu liên tục ở các doạn dầu. Truớc hàng tram sinh viên, Bill Clinton dã bập bẹ vài từ tiếng Việt mà ông nói là vừa cố học: “Xin chào các bạn”. Clinton dã làm cho các sinh viên phải vỗ tay lần thứ hai trong

doạn mở dầu khi ông nhắc tới thành tích của vận dộng viên Trần Hiếu Ngân 523, nguời Việt Nam dầu tiên doạt huy chuong tại một Olympic, và các tuyển thủ bóng dá nhu Lê Huỳnh Đức, Hồng Son, dang tranh giải ở Tiger Cup 2000 Bangkok.

Bill Clinton cho rằng, lịch sử giữa hai quốc gia “vừa là nguồn dau thuong cho các thế hệ dã qua vừa là nguồn hứa hẹn cho các thế hệ sắp tới”. Ông nói: “Cách dây hai thế kỷ, trong những ngày dầu của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, chúng tôi dã vuợt biển dể tìm các dối tác thuong mại và một trong các nuớc mà chúng tôi tiếp cận dầu tiên là Việt Nam”. Clinton dẫn thêm một câu chuyện, cho tới lúc dó, ít nguời biết dến: hon 200 nam truớc, Thomas Jefferson dã cố gắng dể dua các giống lúa Việt Nam về trồng trong trang trại của ông ở Virginia. Jefferson là tác giả của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập nam 1776 của nuớc Mỹ. Bản tuyên ngôn mà Clinton nói là dã “vang vọng trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập 1945” của Việt Nam.

Theo Bill Clinton: “Tất cả những diểm gặp gỡ nhau trong lịch sử 200 nam này dã bị lu mờ trong vài thập niên vừa qua bởi cuộc xung dột mà chúng tôi gọi là Chiến tranh Việt Nam và các bạn gọi là Kháng chiến chống Mỹ”. Bill Clinton nhắc dến bức tuờng dá den ghi tên những nguời Mỹ chết trong chiến tranh Việt Nam, nhắc dến diều mà theo ông, các cựu binh Mỹ gọi là “mặt sau của bức tuờng”, dó là “sự hy sinh lớn lao” 524 của ba triệu nguời Việt Nam. Đứng giữa thủ dô của một chế dộ coi chính quyền miền Nam là “ngụy quyền”, coi những nguời lính miền Nam là “ngụy quân”, Bill Clinton dã gọi dội quân nguời Việt ở cả hai bên là “những nguời lính dung cảm”.

Không dến hội truờng Đại học Quốc gia nhu một khách mời, nhung có thể nói, nguời lắng nghe dầy dủ nhất bài phát biểu của Bill Clinton chính là ông Nguyễn Chí Trung 525. Thế hệ Nguyễn Chí Trung rất khó dể chấp nhận cách gọi những nguời Việt ở phía bên kia, những nguời mà ông coi là kẻ thù là “những nguời lính dung cảm”.

Nhung ông Trung còn quan ngại khi Bill Clinton giải thích toàn cầu hóa và nói: “Theo kinh nghiệm chúng tôi, giới trẻ sẽ có nhiều niềm tin hon vào tuong lai nếu họ có tiếng nói trong việc dịnh huớng tuong lai, trong việc lựa chọn các nhà lãnh dạo chính phủ của họ và có một chính phủ có trách nhiệm dối với những nguời dân mà chính phủ phục vụ”. Mặc dù nhấn mạnh “chúng tôi không tìm cách và cung không thể áp dặt những ý tuởng này”, Bill Cliton nói với sinh viên: “Chỉ có các bạn mới quyết dịnh xem có nên chang tiếp tục mở cửa thị truờng, mở cửa xã hội của

mình và củng cố nền pháp trị. Chỉ có các bạn mới quyết dịnh liên kết nhu thế nào giữa tự do cá nhân và nhân quyền trên nền tảng giàu mạnh của bản sắc quốc gia Việt Nam”.

Vào thời diểm mà Bill Clinton dang nói chuyện với sinh viên ở Hà Nội, Lý Tống, một cựu phi công của Không lực Việt Nam Cộng hòa, từ California bay về Thái Lan, thuê một máy bay thể thao bí mật bay vào vùng trời Việt Nam, rải truyền don ở Sài Gòn và Tây Ninh, kêu gọi lật dổ chế dộ cộng sản. Lực luợng phòng không hôm ấy dã bị Lý Tống qua mặt và hôm sau, 18-11-

2000, vì quá cảnh giác dã nổ súng suợt vào một máy bay dân dụng.

Cuối buổi chiều 18-11-2000, Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu chào dón Tổng thống Bill Clinton bằng một bài phát biểu dài526, sau khi mở dầu theo dúng thủ tục: “Tôi hoan nghênh Ngài và Phu nhân cùng phái doàn Hoa Kỳ sang tham Việt Nam”. Ông Lê Khả Phiêu bắt dầu: “Tôi dồng ý với Ngài là chúng ta không quên quá khứ, không làm lại duợc quá khứ. Vấn dề quan trọng là hiểu cho dúng thực chất cái quá khứ ấy. Cụ thể là hiểu cho dúng thực chất cuộc kháng chiến chống xâm luợc mà chúng tôi dã phải tiến hành… Việt Nam có dem quân di dánh Hoa Kỳ dâu mà Hoa Kỳ lại dem quân sang dánh Việt Nam? Cuộc kháng chiến chống xâm luợc của chúng tôi là giành dộc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc và dua dất nuớc di lên chủ nghia xã hội. Cho nên dối với chúng tôi, quá khứ không phải trang sử den tối, dau buồn và bất hạnh”.

Ông Lê Khả Phiêu nói tiếp: “Bà bộ truởng Ngoại giao Hoa Kỳ trong một lần gặp tôi có hỏi: chủ nghia xã hội có tồn tại duợc không? Tôi nói: không những tồn tại mà chủ nghia xã hội sẽ tiếp tục phát triển thắng lợi… Việt Nam dã có quan hệ ngoại giao với gần 170 nuớc, quan hệ thuong mại với hon 150 nuớc. Đảng chúng tôi có quan hệ với hon 180 dảng cộng sản, cánh tả, dảng cầm quyền… Trong quan hệ quốc tế ngày nay, mọi quốc gia, dân tộc dều cần hợp tác dể cùng phát triển. Chúng tôi tôn trọng sự lựa chọn, cách sống và chế dộ chính trị của các dân tộc. Chúng tôi cung dòi hỏi các nuớc tôn trọng chế dộ chính trị, sự lựa chọn của dân tộc chúng tôi”.

Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu kết thúc bài phát biểu “chào mừng” tổng thống dầu tiên của nuớc Mỹ dến Van phòng Trung uong Đảng: “Chúng tôi quý trọng nhân dân Mỹ, cảm on nhân dân Mỹ dã ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghia của nhân dân Việt Nam. Thấy hình ảnh cháu Chelsea, tôi chạnh nhớ cháu Emily527, con gái của Morrison528, và mẹ cháu cung dã từng sang tham Việt Nam. Đó là biểu tuợng dẹp của tình hữu nghị giữa nhân dân hai nuớc”.

Bill Clinton nhớ lại: “Lê Khả Phiêu cố gắng sử dụng hành dộng phản dối chiến tranh Việt Nam của tôi dể cáo buộc những gì Mỹ dã làm là hành vi dế quốc. Tôi dã rất giận dữ nhất là khi ông ta

nói vậy truớc sự có mặt của Đại sứ Pete Peterson, một nguời dã từng là tù binh chiến tranh. Tôi nói với nhà lãnh dạo Việt Nam rằng khi tôi không tán thành các chính sách dối với Việt Nam, những nguời theo duổi nó cung không phải là dế quốc hay thực dân, mà là những nguời tốt chiến dấu chống cộng sản. Tôi chỉ Pete và nói, ông dại sứ không ngồi sáu nam ruỡi trong nhà tù ‘Hà

Nội Hilton’ vì muốn thực dân hóa Việt Nam”529.

Ông Phan Van Khải nhớ lại: “Ông Phiêu nói nhu thời chiến tranh làm cho họ rất khó chịu. Ông ấy muốn tỏ rõ thái dộ của một chính quyền cộng sản. Nhung, ông Phiêu không hiểu tình hình thế giới giờ dây dã khác. Phe xã hội chủ nghia dã tan rã. Vấn dề là mối quan hệ giữa hai quốc gia, chúng ta cần Mỹ. Nếu nguời Mỹ không vào thì những công ty lớn trên thế giới không có ai vào cả”. Theo Tổng thống Bill Clinton thì giữa ông và Thủ tuớng Phan Van Khải dã xây dựng duợc mối quan hệ tốt dẹp trong lần gặp ở Auckland, khi dó ông Khải cung nói là ông cảm kích truớc việc Bill Clinton dã từng phản dối chiến tranh Việt Nam. Clinton nhớ lại: “Khi tôi nói: những nguời Mỹ phản dối hay ủng hộ cuộc chiến tranh dó dều là nguời tốt. Ông Khải nói: tôi hiểu”. Clinton nhận xét, duờng nhu những nguời mà ông gặp ở Việt Nam, chức vụ càng cao hon thì ngôn ngữ càng “sặc mùi” cộng sản theo kiểu cu hon530.

Đại hội IX

Ông Lê Khả Phiêu giữ chức tổng bí thu duợc ba nam. Trong ba nam dó ông luôn chứng tỏ sự vững vàng, kiên dịnh lập truờng của mình531. Nhung những nỗ lực của ông truớc hết lại bị chính các ông cố vấn sử dụng nhu một lý do dể chống lại ông. Thái dộ “kiên dịnh” truớc Tổng thống Bill Clinton rồi sẽ bị các cố vấn phê bình là cứng nhắc. Truớc Đại hội Đảng lần thứ IX (4-

2001) ông Lê Khả Phiêu dã bị cả ba ông cố vấn hiệp sức ép ông phải rời chính truờng.

Kiến nghị buộc ông Phiêu thôi chức duợc cả ba ông cố vấn dồng tình và cùng ký. Ông Nguyễn Van An nói: “Nó có kịch tính, chính các ông ấy dua ông Lê Khả Phiêu lên rồi lại dua xuống. Những khuyết diểm của ông Lê Khả Phiêu chỉ là nguyên cớ. Sẽ không làm duợc diều dó nếu cả ba ông cố vấn không dồng tình, dặc biệt là vai trò của Lê Đức Anh và Đỗ Muời. Rất ít truờng hợp cả ba ông lại dồng tình nhu vậy”. Ông Nguyễn Van An cung thừa nhận: “Nếu dể ông Phiêu tiếp tục giữ chức thì sẽ dẫn dến tiền lệ tổng bí thu vi phạm nguyên tắc cả dối nội và dối ngoại”. Điều dáng nói là sự “vi phạm nguyên tắc cả dối nội lẫn dối ngoại” của ông Lê Khả Phiêu dều có bàn tay của Tổng cục II.

Về dối ngoại, ông An nói: “Ông Lê Khả Phiêu gặp Giang Trạch Dân không theo con duờng chính thống bằng quan hệ Đảng, Nhà nuớc mà theo con duờng tình báo”. Theo ông Nguyễn Đình Huong, thành viên Ban Chuyên án A10: “Tháp tùng chuyến di ấy của Lê Khả Phiêu gồm Trần Đình Hoan, Nguyễn Mạnh Cầm và Phó Tổng cục truởng Tổng cục II Nguyễn Chí Vịnh. Vịnh bố trí một cuộc gặp giữa ông Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân. Khi gặp, cả ông Nguyễn Mạnh Cầm và ông Trần Đình Hoan cùng di nhung phía Trung Quốc ngan ông Cầm và ông Hoan, chỉ cho Vịnh vào. Theo báo cáo của Vịnh thì hội dàm cung không có thỏa thuận riêng gì nhung có nhiều nguời dặt vấn dề trong dó có Trần Đình Hoan”532.

Theo ông Lê Khả Phiêu thì dây là một cuộc gặp theo dề xuất của Giang Trạch Dân, phía Việt Nam cung nhân dấy, muốn “tham dò thái dộ của Trung Quốc dối với Mỹ và dối với chủ nghia xã hội”. Phía Trung Quốc thỏa thuận thành phần, mỗi bên bốn nguời, chủ yếu là chỉ dể tổng bí thu gặp tổng bí thu. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Mạnh Cầm, trong khi ông bị chặn lại thì phía Trung Quốc, Bộ truởng Ngoại giao Đuờng Gia Triền vẫn vào ngồi cùng Giang Trạch Dân.

Ông Lê Khả Phiêu giải thích: “Tôi gặp Giang Trạch Dân hai lần, lần thứ hai, hai bên thống nhất là nên có gặp riêng dể bàn về biên giới và Biển Đông. Truớc cuộc gặp tôi có xin ý kiến Bộ Chính trị nhung nhiều anh quên. Tôi và Giang Trạch Dân chỉ thỏa thuận, trong vấn dề Biển Đông, cái gì chỉ liên quan dến hai nuớc thì dàm phán song phuong, cái gì còn liên quan dến quốc gia khác thì dàm phán da phuong. Cho dến bây giờ thỏa thuận này vẫn còn duợc thực hiện”533.

Về dối nội, ông Lê Khả Phiêu bị cáo buộc làm trái nguyên tắc khi ký Quyết dịnh 234, cho lập ra một co quan theo dõi nội bộ, chủ yếu là cán bộ cao cấp. Theo ông Vu Quốc Hùng, phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung uong Đảng: “Việc xem xét những sai lầm của Quyết dịnh 234 bắt dầu sau khi ông Lê Đức Anh chính thức dặt ra”. Một ban chuyên án duợc Bộ Chính trị cho thành lập với thành phần gồm: Chủ tịch nuớc Trần Đức Luong, Chủ nghiệm Ủy ban Kiểm tra Nguyễn Thị Xuân Mỹ, Truởng Ban Bảo vệ Đảng Nguyễn Đình Huong534.

Ông Vu Quốc Hùng, phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung uong Đảng, nguời duợc giao thẩm tra các sai phạm của ông Lê Khả Phiêu, cho biết: “Đầu nam 2001, Bộ Chính trị họp chuẩn bị Đại hội IX, chị Nguyễn Thị Xuân Mỹ di họp về nói, Bộ Chính trị dang kiểm diểm anh Phiêu gay gắt nhiều chuyện: vấn dề Campuchia, quan hệ nam nữ, vô nguyên tắc khi ra Quyết dịnh 234, ngành tình báo lâu nay chỉ nắm dịch, nay duợc theo dõi nội bộ, gặp Giang Trạch Dân, di không hỏi, về không trình. Từ dó, Ủy ban Kiểm tra phải vào cuộc, họp cả ngày cả dêm. Trong khi Bộ Chính trị

vẫn cứ họp. Ông Phạm Thế Duyệt, ủy viên thuờng trực Thuờng vụ Bộ Chính trị, thuờng xuyên gọi tôi sang, dặn: phải có trách nhiệm với Đảng, phải khách quan, không chịu áp lực của mấy ông cố vấn”.

Theo ông Vu Quốc Hùng: “Quyết dịnh 234 duợc ký theo tham muu của ông Vu Chính. Lẽ ra anh Phiêu phải thận trọng. Khi Vu Chính tham muu thì nói là làm sao dể ngan chặn diễn biến hòa bình, ngan chặn những xu huớng không tốt trong nội bộ Đảng. Tham muu bằng mồm và có tham muu cả bằng giấy. Ông Phiêu thấy cần phải có một van bản, một tổ chức nên ký”. Ông Lê Khả Phiêu giải thích: “Lúc dó, có nhiều tin tình báo duợc dua ra thiếu kiểm chứng nhiều nguời có ý kiến. Tôi còn giữ thu anh Võ Van Kiệt yêu cầu phải chấn chỉnh công tác tình báo, nguồn tin tình báo cần duợc thẩm dịnh truớc khi cho luu hành trong nội bộ. Bản thân anh Lê Đức Anh cung dồng ý là phải chấn chỉnh. Vì thế tôi lập ra bộ phận này giao cho anh Phạm Thanh Ngân phụ trách”.

Về “quan hệ nam nữ”, theo ông Vu Quốc Hùng: “Truớc khi di Cuba, ông Lê Khả Phiêu có dến nhà anh Đoàn Mạnh Giao an com. Tới dó có cả cô Đặng Thu Hà, con gái Trung tuớng Đặng Kinh. Ông Phiêu giải trình, quan hệ giữa ông và ông Đặng Kinh là quan hệ giữa cấp duới với thủ truởng, ông coi cô Hà nhu là cháu. Tôi có hỏi anh Trần Đình Hoan, anh có thấy yếu tố quan hệ nam nữ không. Anh Hoan nói không thấy. Còn “quan hệ với CIA”, khi di Cuba, doàn có Ngô Xuân Lộc, Nguyễn Mạnh Cầm, Đỗ Trung Tá di cùng, chuyển tiếp máy bay ở Thụy Điển. Tại dây thông qua Hà có gặp một phụ nữ tên là Vu Thị Dung, có nguời tố cáo Dung là CIA”.

Trên thực tế, Vu Thị Dung chỉ là một cán bộ doanh nghiệp di trong phái doàn Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu tham châu Âu. Một tấm hình chụp có Vu Thị Dung trong chuyến di này duợc photoshop, cắt hình những nguời cùng chụp chỉ dể lại hình Lê Khả Phiêu và Vu Thị Dung dể nói ông Phiêu lén lút quan hệ với “gái” là một nữ diệp viên. Tại phiên họp Bộ Chính trị mà tấm hình này duợc dua ra, ông Nguyễn Mạnh Cầm xác nhận bức ảnh này khi chụp có cả ông nhung dã bị xóa. Truởng Ban Tổ chức Nguyễn Van An thừa nhận: “Bức ảnh duợc cắt xén quá ấu tri. Tổng cục II dua ảnh cho ông Đỗ Muời, ông Đỗ Muời dua cho nhiều nguời xem truớc mặt Bộ Chính trị rồi dua lại cho tôi quản lý”.

Đuờng di của Quyết dịnh 234 cho thấy, khó có viên tuớng nào truởng thành trong thời gian ông Lê Đức Anh cầm quyền lại có thể dễ dàng thoát ra khỏi tầm ảnh huởng của ông. Khi trở thành tổng bí thu, kiêm bí thu Quân ủy Trung uong, ông Lê Khả Phiêu bàn với Tuớng Phạm Van Trà,

bộ truởng Quốc phòng và Phạm Thanh Ngân, chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, lập ra một co quan, thành phần gồm Tổng cục II, Cục Bảo vệ An ninh, Tổng cục Chính trị. Nguời mà Tuớng Lê Khả Phiêu giao thiết kế mô hình, chức nang, nhiệm vụ lại là Trung tuớng Vu Chính.

Tuớng Vu Chính dã “thiết kế” chức nang quyền hạn cho co quan này gồm cả quyền “theo dõi lực luợng cấp tiến trong và ngoài quân dội”. Ông Phiêu duợc nói là dã gạch bỏ doạn này nhung, Tuớng Chính chỉ bỏ trong phần quyết dịnh còn phần phụ lục huớng dẫn thì vẫn giữ nguyên. Sau khi Tuớng Phạm Thành Ngân ký nháy, Bí thu Quân ủy Lê Khả Phiêu dã ký Quyết dịnh 234.

Theo ông Vu Quốc Hùng, từ khoảng tháng 6-2000, Vu Chính dã báo cáo với Cố vấn Lê Đức Anh rằng Quyết dịnh 234 do Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu ký là sai. Nhung dến ngày 5-1-2001, khi

Bộ Chính trị họp bàn chuẩn bị nhân sự Đại hội IX, Tuớng Lê Đức Anh mới dua ra Bộ Chính trị, dòi kỷ luật ông Lê Khả Phiêu vì dã có “chủ truong theo dõi cán bộ cao cấp trong và ngoài quân dội”. Ông Nguyễn Đình Huong cho rằng: “Quyết dịnh 234 là một kịch bản của ông Lê Đức Anh nhằm hạ bệ ông Lê Khả Phiêu, nhất là sau khi ông Phiêu tuyên bố bỏ dịnh chế cố vấn”. Ông Phiêu nói: “Có thể có muu mẹo gì dấy nhung tôi thì chỉ nghi don giản”.

Trong tuần lễ từ ngày 3 dến 11-1-2001, nhân Đại hội Đảng toàn quân, cố vấn Lê Đức Anh dột ngột buộc tội Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu. Trong Hội nghị Bộ Chính trị, ông Lê Khả Phiêu thừa nhận có so hở về hành chính trong việc ký Quyết dịnh 234, ông vẫn còn giữ duợc bản thảo và chứng minh Tuớng Vu Chính dã không sửa phần ông gạch bỏ. Ông Phiêu cung cho biết truớc khi quyết dịnh có họp Thuờng vụ Đảng ủy Quân sự Trung uong gồm Lê Khả Phiêu, Phạm Van Trà và Phạm Thanh Ngân. Hội nghị Bộ Chính trị ngày 5-1-2001 kết luận việc ông Lê Khả Phiêu ký quyết dịnh 234 là vi phạm nguyên tắc lãnh dạo tập thể, yêu cầu hủy bỏ ngay Quyết dịnh 234, giải tán ngay bộ phận tình báo theo dõi nội bộ.

Sau Hội nghị Trung uong 11, các vị cố vấn, dặc biệt là Tuớng Lê Đức Anh cử nguời gặp các cán bộ lão thành, thông báo những thông tin liên quan dến các “sai phạm của Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu”. Theo ông Vu Quốc Hùng, dây là những việc làm sai nguyên tắc của Đảng và chính Ủy ban Kiểm tra Trung uong Đảng dã gửi công van yêu cầu các vị cố vấn phải giải trình.

Cung theo ông Vu Quốc Hùng, truớc khi có kết luận chúng tôi dã mời ông Lê Khả Phiêu sang Ủy ban Kiểm tra chất vấn. Ủy ban Kiểm tra kết luật không dề nghị kỷ luật ông Lê Khả Phiêu và ông Phạm Thanh Ngân nhung không dể tái cử trong nhiệm kỳ IX. Bộ Chính trị họp nói thẳng,

ông Phiêu phải rút khỏi Ban Chấp hành Trung uong. Có ý kiến dòi phải kỷ luật ông Phiêu truớc

khi cho nghỉ.

ỞBộ Chính trị, ông Lê Khả Phiêu chấp nhận, nhung tại Hội nghị Trung uong 12, theo ông Nguyễn Van An: ‘Khi Trung uong bỏ phiếu, số nguời dồng ý cho ông Lê Khả Phiêu nghỉ chỉ chiếm 50,5%, số không dồng ý là 49,5%, trong khi có nam ủy viên Trung uong vắng họp. Ông Phiêu không tâm phục khẩu phục mà những nguời ủng hộ ông Phiêu cung không tâm phục khẩu phục. Chúng tôi cung lo ngại rằng ra dại hội sẽ lộn xộn. Trong Bộ Chính trị thì còn phân hóa. Ông Phiêu lại dang nắm quân dội. Tôi bàn với anh Phạm Thế Duyệt cho bỏ phiếu lại. Bộ Chính trị dồng ý. Các ông cố vấn phản dối nhung chúng tôi kiên quyết làm. Thực ra khi dó dánh giá tình hình, bỏ phiếu lại thì ông Lê Khả Phiêu chỉ mất thêm phiếu. Đua ra Trung uong cung bàn cãi mãi thì Trung uong mới biểu quyết dồng ý cho bỏ phiếu lại. Ngày 18-4-2001, Ban Chấp hành Trung uong bỏ phiếu lại, ông Phiêu chỉ còn một số phiếu rất thấp. Ông chấp nhận”.

Khi Ban Chấp hành Trung uong khóa IX họp phiên thứ nhất (22-4-2001) dể bầu tổng bí thu, ông Phan Van Khải duợc giao chủ trì phiên họp. Trong danh sách tham dò mà Ban Tổ chức công bố, ông Nông Đức Mạnh dứng dầu, kế dó là Trần Đức Luong, Phan Van Khải, Nguyễn Van An và Phạm Thế Duyệt. Ông Phan Van Khải dã dề nghị “dể thể hiện thái dộ nhất trí cao trong Đảng” chỉ giữ một mình ông Mạnh trong danh sách bầu tổng bí thu. Trung uong vỗ tay dồng ý. Ông Mạnh “duợc bầu” với số phiếu 100%.

Ởsau hậu truờng, theo ông Nguyễn Đình Huong: “Ba ông cố vấn cung dã có bàn nhau, cả ba nhân vật duợc các cố vấn dua ra cân nhắc truớc nhu Luong, Trọng, An, dều có những vấn dề. Ông Mạnh nhờ không nằm trong danh sách duợc chuẩn bị nên không có phản dối, con nguời ông Mạnh lại trung dung, các ông tính, dua ông Mạnh lên là yên. Nhung cách tính truớc mắt ấy dã dẫn dến một sai lầm chiến luợc”.

Chuong XXI: Định huớng xã hội chủ nghia

Cho dù vẫn là quốc gia một dảng, kể từ khi chấp nhận kinh tế nhiều thành phần, về bản chất, Việt Nam không còn là quốc gia cộng sản. Thế nhung, dịnh huớng xã hội chủ nghia vẫn nhu một “noi trú ẩn” của dảng cầm quyền và ý thức hệ vẫn ảnh huởng sâu sắc dến tiến trình ban hành chính sách. Thật khó dể khẳng dịnh, chủ nghia xã hội có thực sự là niềm tin của một số nhà lãnh dạo Đảng lúc bấy giờ nhung nó dã trở thành quyền lực chính trị, ngan chặn thành công những

chính sách phát triển dất nuớc theo huớng kinh tế thị truờng. Quan diểm lấy quốc doanh làm chủ dạo duợc thiết lập trong thập niên 1990 dã dể lại di chứng lâu dài cho dất nuớc.

Quốc doanh chủ dạo

Không phải ngẫu nhiêu mà ở giai doạn 1991-1995, GDP tang bình quân 8,2%, mức tang truởng cao nhất so với cả thập niên sau dó535. Từ chỗ bị cấm doán, trên nhiều linh vực, Nhà nuớc dã dể cho nguời dân duợc tự do làm an536. Kinh tế thị truờng dã dánh thức khát vọng com no, áo ấm của nguời dân và trong giai doạn so khai, các nguồn lực trong dân nhu những chiếc lò xo dã bung ra mạnh mẽ537. Nhung, khi sức dàn hồi tự nhiên yếu dần, những bất cập về chính sách, luật pháp và thủ tục hành chính mới bắt dầu bộc lộ.

Đổi mới bắt dầu chững lại vào giữa thập niên 1990, và tốc dộ chuyển sang kinh tế thị truờng có nguy co dẫm chân tại chỗ. Sự sốt ruột duợc ông Võ Van Kiệt thể hiện một phần trong “Thu gửi Bộ Chính trị”.538. Nhung Đại hội Đảng lần thứ VIII, giữa nam 1996, từ nhân sự cho dến duờng lối, dã không cung cấp duợc nhân tố mới nào. Theo ông Phan Van Khải, nói là Đảng bắt dầu dổi mới từ nam 1986, nhung trên thực tế trong suốt nhiệm kỳ VI (1986-1991), trong Đảng vẫn tranh cãi liên miên về duờng di. Chấp nhận kinh tế tu nhân vì thấy “vẫn còn cần” nhung mối quan tâm chính của Đảng vẫn là kinh tế quốc doanh.

Truớc khi cho phép tu nhân lập công ty, tháng 3-1989, tại Hội nghị Trung uong 6, khóa VI, Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh nói: “Ban Chấp hành Trung uong dòi hỏi phải có những biện pháp mạnh mẽ, dồng bộ và thiết thực dể cởi trói, tháo gỡ các khó khan vuớng mắc cho kinh tế quốc doanh nâng cao hiệu quả kinh tế của nó, khẳng dịnh vai trò chủ dạo của kinh tế quốc doanh trong co cấu kinh tế nhiều thành phần”. Cuối nam 1989, sau mấy tháng áp dụng các biện pháp chống lạm phát, trong dó áp dụng khá triệt dể nguyên tắc tự hạch toán kinh doanh dối với các doanh nghiệp, thị truờng tốt hẳn lên. Nhìn kết quả chung của toàn nền kinh tế thì dó là một thành công. Khu vực kinh tế phi nhà nuớc duợc lợi, nguời dân duợc lợi lớn. Nhung các doanh nghiệp nhà nuớc thì bế tắc.

Quen duợc bao cấp từ cung cấp vật tu cho tới khâu tiêu thụ, nay phải tự vay vốn, tự tính dúng, tính dủ giá thành sản phẩm, nhiều doanh nghiệp nhà nuớc dứng bên bờ vực vì thiếu vốn, hàng làm ra không bán duợc. Than Quảng Ninh bốn nam tháng không có luong trả công nhân. Nhà máy Diesel Sông Công, Thái Nguyên, niềm tự hào của nền công nghiệp Việt Nam, trong nam 1989 sản xuất duợc 5.000 dầu máy 50 mã lực nhung chỉ bán ra duợc một cái.

Theo ông Nguyễn Van Nam, thu ký của ông Đỗ Muời: “Tổng Bí thu Nguyễn Van Linh bốn lần gặp Chủ tịch Hội dồng Bộ truởng Đỗ Muời phê phán. Giữa nam 1989, khi họp Trung uong, nghe ông Đỗ Muời báo cáo những mặt tích cực của nền kinh tế, ông Linh nói: ‘Mất chủ nghia xã hội tới noi rồi còn nói thành tích’. Ông Linh dòi ông Muời phải bỏ áp dụng các biện pháp chống lạm phát áp dụng từ quý II nam 1989. Ông Muời triệu tập các chuyên gia bàn cách thi hành lệnh của Tổng Bí thu”.

Thôi áp dụng các nguyên tắc trong dề án chống lạm phát dồng nghia với việc từ bỏ những nguyên tắc của kinh tế thị truờng, yếu tố giúp nền kinh tế vuợt qua khủng hoảng. Các chuyên gia gặp nhau, hết sức lo lắng, Giáo su Đào Xuân Sâm dề nghị: “Tôi dến tuổi rồi, có gì thì về huu, các cậu cứ dể dấy tôi nói”. Vào họp, Giáo su Đào Xuân Sâm hỏi ông Đỗ Muời: “Anh làm thủ tuớng của sáu muoi triệu dân hay chỉ là sáu triệu cán bộ quốc doanh?”. Ông Đỗ Muời nói: “Làm gì tới sáu triệu, chỉ khoảng ba, bốn triệu thôi”. Giáo su Sâm tiếp: “Quốc hội bầu anh dứng dầu Chính phủ là dể lo cho toàn dân chứ dâu phải chỉ lo cho mấy triệu công nhân quốc doanh. Một phuong án dang dem lại lợi ích cho dất nuớc, cho nhân dân mà anh tính bỏ sao duợc”. Bị dặt giữa hai dòng áp lực, ông Đỗ Muời dành phải duy trì những chính sách dang phát huy hiệu quả dồng thời yêu cầu: “Các anh tìm cho tôi phuong án cứu quốc doanh”.

Nhóm chuyên gia của ông Đỗ Muời bàn và dua ra lý lẽ: Kinh tế thị truờng là thả các doanh nghiệp, trong dó có quốc doanh, ra boi chung trong một biển hồ. Vì quốc doanh chua biết boi nên thả ra là chết. Ngày xua bao cấp nhu những chiếc lồng ấp, nên nếu quốc doanh ngắc ngoải có thể vớt lên dua vào lồng may ra sống lại. Nhung nay, những chiếc lồng ấp không còn, có vớt lên bờ nó cung chết. Nguyên tắc của doanh nghiệp là phải boi trong thị truờng. Nếu chua biết boi thì thả thêm phao cho nó.

Ông Nguyễn Van Nam giải thích: “Cái phao duợc thả ra vào thời diểm này là vốn, toàn bộ khấu hao, Chính phủ cho các doanh nghiệp quốc doanh giữ lại. Các doanh nghiệp còn duợc cấp trực tiếp một khoản tiền: Than Quảng Ninh và Diesel Sông Công duợc cấp bốn tỷ trả luong; quốc doanh duợc áp dụng tín dụng uu dãi, duợc vay vốn với lãi suất khoảng 6-7% thay vì 13% nhu thị truờng”. Các ngân hàng quốc doanh lại trở về với nguyên tắc bao cấp khi phải cung cấp một luợng tín dụng rất lớn cho ngân sách có tiền chi tiêu và cho các xí nghiệp quốc doanh539.

Theo ông Nguyễn Van Nam: “Sự trì trệ của quốc doanh bắt dầu từ chính sách này. Họ dã không dựa vào phao dể học boi mà suốt dời cứ bám vào cái phao Nhà nuớc. Sức bám càng ngày càng

nặng dần dó là lý do mà khu vực kinh tế quốc doanh chậm dổi mới và hiệu quả của nền kinh tế thì càng ngày càng thấp”. Sự tồn tại của quốc doanh, từ dó, theo ông Trần Đức Nguyên540, “chủ yếu dựa vào những uu ái của Nhà nuớc: duợc khai thác tài nguyên, dặc biệt là dất dai; duợc dộc quyền trong những ngành mà Nhà nuớc giữ quyền chi phối; nhận duợc tín dụng uu dãi theo kênh hành chánh, nguời vay không phải chịu trách nhiệm gì”.

Những nguời soạn thảo “Chiến luợc ổn dịnh và phát triển kinh tế xã hội dến nam 2000”541, một trong ba van kiện chính của Đại hội Đảng lần thứ VII, tháng 6-1991, dã cố gắng dặt các khung chính trị dể phát triển kinh tế nhiều thành phần, chỉ giữ quốc doanh trên những linh vực mà các thành phần khác không có diều kiện hoặc không muốn dầu tu kinh doanh. Tổ phó Biên tập Chiến luợc, ông Trần Đức Nguyên, thừa nhận những quan diểm này duợc hình thành sau chuyến di “khảo sát kinh nghiệm phát triển kinh tế ở bốn nuớc châu Á”542.

Tuy ghi nhận kinh nghiệm sử dụng vai trò nhà nuớc trong giai doạn dầu dối với các nuớc từ nông nghiệp lạc hậu di lên543, nhung doàn của ông Phan Van Khải chủ yếu tiếp thu các khuyến cáo về kinh tế quốc doanh. Ở cả bốn nuớc mà doàn di qua dều có tình trạng chung: trong cùng một ngành hoạt dộng, quốc doanh thuờng kém hiệu quả hon tu nhân, do ít tự chủ, duợc uu dãi nhung lại bị nhà nuớc can thiệp sâu, nên bị dộng và ỷ lại.

Báo cáo chuyến khảo sát của ông Phan Van Khải viết: “Cuối cùng chính các quốc gia này rút ra: cái gì tu nhân làm duợc thì dể tu nhân làm; Khác với quan diểm cái gì quốc doanh không làm duợc mới dể tu nhân làm. Cả bốn nuớc dều tu nhân hóa khu vực quốc doanh, nhung vẫn giữ lại những co sở cần thiết nhu co sở phục vụ công cộng, co sở khai thác tài nguyên quan trọng nhu dầu mỏ, co sở ở những linh vực tu nhân không muốn làm hoặc không dủ sức làm”544.

Thị truờng và lập truờng

Đầu thập niên 1990, nguời Nga sang Việt Nam dàm phán không nói chuyện buôn bán mà chỉ dòi nợ cu của Liên Xô. Nền công nghiệp gia công mui giày, may áo so mi, xuất sang Liên Xô, Đông Âu bắt dầu diêu dứng vì thị truờng truyền thống không còn nữa. Hàng vạn công nhân thất nghiệp. Việt Nam bắt dầu phải tìm kiếm bạn hàng từ những thị truờng khác.

Các doanh nghiệp phải trầy vi, tróc vảy, di dần từng buớc, từ các bạn hàng Hồng Kông, Đài Loan rồi mới nhích tới EU. Đã có biết bao công an, việc làm duợc phục hồi nhờ những bạn hàng mới dó. Nhung do chua quen gia công hàng cao cấp, hàng hóa cứ bị trả vì không dạt chất luợng. Khách hàng khắc phục bằng cách cử chuyên gia sang kiểm tra. Hàng hóa không còn bị trả lại

nữa nhung việc các chuyên gia tu bản ngồi trong các nhà máy quốc doanh làm cho nhiều nguời chạnh lòng.

Bộ truởng Lê Van Triết kể: “Tôi báo với ông Kiệt, ông Kiệt nói: làm với ai, làm gì mà có lợi cho dất nuớc thì mình cứ làm. Nhung rồi bên Ban Bí thu nói vô nói ra, có nguời sợ cho tu bản kiểm tra hàng hóa của mình là mất chủ quyền, mình lệ thuộc vào nó. Có nguời thậm thà, thậm thụt với ông Đỗ Muời. Ở nhiều hội nghị, kể cả trong hội nghị trung uong, ông Đỗ Muời cảnh báo: Coi chừng mất dịnh huớng, mất chủ nghia xã hội”. Theo ông Phan Van Khải, tết nam 1989, tuy chúc “nguời dân làm giàu”, nhung ông Đỗ Muời vẫn dùng ảnh huởng của mình dể bảo vệ quan diểm kinh tế nhà nuớc và kinh tế hợp tác là nền tảng.

Ông Phan Van Khải nói: “Tôi và Thủ tuớng Võ Van Kiệt cho rằng, phải phá bằng duợc thế kế hoạch hóa tập trung, phải chuyển nền kinh tế từ chỗ nhà nuớc quyết dịnh dến chỗ do thị truờng quyết dịnh. Nhà nuớc chỉ tạo ra hành lang pháp lý còn chuyện làm giàu thì phải dể cho nguời dân, nhân dân phải là nguời quyết dịnh sự nghiệp của dất nuớc. Trong suốt một thời gian dài chúng tôi phải tranh cãi dể bảo vệ quan diểm này với những nhà lý luận mà ông Đỗ Muời tập hợp, từ Đào Duy Tùng dến Nguyễn Đức Bình và kể cả Lê Xuân Tùng. Mãi về sau này, chúng tôi mới có thêm những nguời ủng hộ nhu Phan Diễn, Nguyễn Van An. Còn những nguời còn lại trong Bộ Chính trị thì không quan tâm dến lý luận”.

Trong hai ngày 30 và 31-7-1993, ông Võ Van Kiệt tổ chức một phiên họp thuờng kỳ của Chính phủ tại Dinh Thống Nhất. Sau khi dánh giá: “Tình hình kinh tế xã hội dang có những chuyển biến tích cực, dúng huớng, dã vuợt qua duợc những thử thách to lớn, di dần vào thế ổn dịnh”. Truớc sự có mặt của báo giới, ông Kiệt gửi di thông diệp: Phải làm bật dậy mọi tiềm nang trong cả nuớc, khai thác khả nang tiềm tàng của các thành phần kinh tế, dồng thời tranh thủ tối da nguồn lực bên ngoài nhằm dẩy nhanh công cuộc xây dựng dất nuớc.

Ngay sau phiên họp, khi trả lời phỏng vấn Tuổi Trẻ, Phó Thủ tuớng Phan Van Khải, tuy cho rằng “trong giai doạn truớc mắt, dân doanh còn nghèo, quốc doanh còn phải trụ cột”, nhung vẫn nhấn mạnh: “Quốc doanh vẫn chủ yếu dầu tu co sở hạ tầng dể tạo diều kiện cho các thành phần, các ngành kinh tế phát triển”. Mặc dù vẫn “huớng tới thành lập những công ty lớn và những tập doàn [quốc doanh] có sức cạnh tranh với bên ngoài”, Chính phủ sẽ cho cổ phần hóa dể huy dộng vốn dầu tu vào những công trình quan trọng hon”. Nhung theo ông Phan Van Khải: “Chính phủ củng cố quốc doanh không có nghia là tiếp tục ôm lấy gánh nặng cho nền kinh tế”545.

Cung từ giai doạn này, chính phủ chủ truong bỏ dần khái niệm bộ chủ quản và khái niệm xí nghiệp trung uong, xí nghiệp dịa phuong, tách bạch vai trò quản lý nhà nuớc của các bộ với quản lý sản xuất kinh doanh. Chính phủ, kể từ nam 1991, thể hiện khá nhất quán chính sách nhắm tới nền kinh tế nhiều thành phần546.

Hon bốn tháng sau khi dứng dầu chính phủ, ông Võ Van Kiệt dã ký quyết dịnh thành lập Hội dồng Trung uong Lâm thời các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, bổ nhiệm cựu Bộ truởng Thuong mại Hoàng Minh Thắng làm chủ tịch. Ông Thắng nói: “Chủ truong của ông Kiệt khi cho ra dời tổ chức này là dể khuếch truong kinh tế tu nhân, coi tu nhân là lực luợng chủ lực của nền kinh tế”. Từ tháng 12-1991 cho dến tháng 10-1993, Hội dồng Trung uong Lâm thời dã tổ chức duợc ba muoi tám hội dồng lâm thời ở ba muoi tám tỉnh, thành phố, trực thuộc trung uong, dặc biệt, cung trong giai doạn này, các hợp tác xã dã duợc tổ chức lại theo tinh thần hợp tác tự nguyện.

Nhung, cuối tháng 10-1993, khi dại biểu của ba muoi tám tỉnh, thành bắt dầu về Hà Nội dể dự dại hội thành lập hội thì Trung uong Lâm thời duợc Ban Bí thu triệu tập. Theo ông Hoàng Minh Thắng: “Tôi trình bày truớc Ban Bí thu về công tác chuẩn bị, về lực luợng hon hai tram nghìn doanh nghiệp tu nhân và ba tram nghìn hợp tác xã và tổ kinh tế hợp tác. Ông Đỗ Muời nghe, nói: rộng quá, to quá! Không cần giải thích, ông quyết dịnh thành phần hội viên chỉ còn là tổ hợp tác và hợp tác xã, không cho bao gồm cả doanh nghiệp tu nhân. Đại hội, do dó, vẫn diễn ra vào ngày

30-10-1993 nhung thay vì thành lập Hội Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trở thành dại hội thành lập Liên minh các hợp tác xã”.

Ba tháng sau, từ ngày 20 dến 25-1-1994, tại hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng, ông Đỗ Muời dã dọc một van kiện chỉ ra bốn nguy co: nguy co tụt hậu xa hon về kinh tế so với nhiều nuớc trong khu vực và trên thế giới, nguy co chệch huớng xã hội chủ nghia nếu không khắc phục duợc những lệch lạc trong chủ truong, chính sách và chỉ dạo thực hiện, nguy co về nạn tham nhung và tệ quan liêu, nguy co “diễn biến hoà bình” của “các thế lực thù dịch”. Nói là “bốn nguy co”, nhung chỉ có “chệch huớng” và “diễn biến hòa bình” là thực sự duợc nhấn mạnh. Nền “kinh tế thị truờng” mà Đại hội Đảng lần thứ VII dua vào van kiện “Chiến luợc phát triển kinh tế xã hội dến nam 2000” dã duợc thêm “duôi” dể trở thành: “Xây dựng dồng bộ co chế thị truờng có sự quản lý của nhà nuớc theo dịnh huớng xã hội chủ nghia”547.

Không don giản chỉ là chuyện câu chữ, cái duôi “dịnh huớng xã hội chủ nghia” duợc gắn vào “kinh tế thị truờng” phản ánh mối tuong quan quyền lực, cho thấy những nỗ lực dể Việt Nam thoát ra khỏi mô hình kinh tế kế hoạch hóa là không hề dễ dàng. Sự nửa vời này gây bức bối cho cả khu vực kinh tế nhà nuớc lẫn khu vực kinh tế tu nhân.

Ngày 8-2-1995, ông Võ Van Kiệt vào Sài Gòn, gặp 300 nhà doanh nghiệp tại Dinh Thống Nhất548. Ông Kiệt phân bua: “Chính phủ dang làm dâu hai họ, quốc doanh và tu doanh ai cung kêu mình không duợc dối xử bình dẳng”. Các xí nghiệp quốc doanh cho rằng họ dang phải chịu nhiều thuế và phí hon tu doanh, trên dầu họ, ngoài pháp luật còn có một co quan chủ quản. Trong khi, các giám dốc tu nhân lại cảm thấy bị thua thiệt với không chỉ quốc doanh mà còn với các doanh nhân nuớc ngoài549. Sau cuộc họp dó, ông Kiệt cử nguời vào Nam và mặc dù bị các tổng công ty nhà nuớc kinh doanh lúa gạo phản ứng khá dữ dội, ông Kiệt quyết dịnh, thay vì tập trung quyền xuất khẩu gạo cho hai tổng công ty, chính phủ còn trao quyền này cho các tỉnh550. Ông Khải cho rằng chua có một chính phủ nào trong một thời gian ngắn có thể ban hành nhiều van bản luật nhu Việt Nam của thập niên 1990. Điều mà nền kinh tế cần, theo thuật ngữ lúc dó, là một “hành lang pháp lý” dể các thành phần kinh tế dều có thể vận hành theo kinh tế thị truờng. Nhung thị truờng chính là diểm xung dột dối với những nguời coi lập truờng quan trọng hon quốc gia phát triển.

Khi Luật Thuong mại duợc Chính phủ Võ Van Kiệt biên soạn theo nguyên tắc “công dân có quyền tự do mua bán, tự do sản xuất kinh doanh”, theo Bộ truởng Thuong mại Lê Van Triết, truớc khi Quốc hội họp, ông Đỗ Muời kêu ông lên, mắng: “Tự do gì cung phải ở trong khuôn khổ, quốc doanh phải nắm, nuớc nào nhà nuớc cung phải quản lý”. Rồi ông Đỗ Muời yêu cầu Bộ Thuong mại biên soạn lại theo huớng “quốc doanh thống linh thị truờng, kiên quyết không dể cho tu thuong dẩy lùi trận dịa”. Ông Triết nói với ông Muời: “Thua anh, dây là Hiến pháp”. Ông Muời nói: “Hiến pháp thì cung phải vận dụng. Anh phải hiểu chứ”. Ông Triết buộc phải cắt bớt mấy chữ “tự do mua bán”, các dại biểu không dồng tình, Quốc hội biểu quyết giữ nguyên nhu dự thảo ban dầu. Ông Đỗ Muời lại kêu ông Triết lên, mắng: “Anh làm lỡ hết, Quốc hội biết rồi. Bây giờ phải tìm cách sửa khi làm nghị dịnh huớng dẫn”.

Sở di hàng chục nam sau dổi mới, Việt Nam vẫn không có một thị truờng phát triển dúng tầm, không có những nhà tu sản thuong nghiệp có khả nang tìm kiếm thị truờng bên ngoài, theo Bộ truởng Thuong mại Lê Van Triết, là do “những nỗ lực theo dúng kinh tế thị truờng rất dễ bị coi

là chệch huớng. Đề án xây dựng thị truờng nội dịa của tôi bị bác bỏ gần hết. Bản dự thảo sau khi dua lên mấy tầng, cuối cùng trở về không còn là bản của mình nữa. Thủ tuớng Võ Van Kiệt cung không bảo vệ duợc”.

Ngay cả khi không còn giữ chức tổng bí thu, ông Đỗ Muời còn có ảnh huởng quyết dịnh trong việc duy trì vai trò chủ dạo của khu vực kinh tế nhà nuớc. Khi chuẩn bị Nghị quyết 05551, Chính phủ Phan Van Khải luu ý: “Có noi còn coi trọng số luợng hon chất luợng, hiệu quả, còn cho rằng doanh nghiệp nhà nuớc phải chiếm tỉ trọng lớn, phải có mặt và phải chi phối ở hầu hết các linh vực, các ngành kinh tế thì mới làm duợc vai trò chủ dạo”552. Nhận xét này dã bị ông Đỗ Muời phê phán.

Trong thu gửi Bộ Chính trị dề ngày 2-11-2000, Cố vấn Ban Chấp hành Trung uong Đảng Đỗ Muời cho rằng quan diểm “thu hẹp doanh nghiệp nhà nuớc, phát triển mạnh các thành phần kinh tế khác là một khuynh huớng sai lầm cần uốn nắn”. Theo ông Đỗ Muời: “Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghia dựa trên ‘chế dộ công hữu về tu liệu sản xuất là chủ yếu’ là một trong những dặc trung của xã hội chủ nghia… Mọi sự coi nhẹ, làm suy yếu kinh tế nhà nuớc chính là biểu hiện của nguy co chệch huớng”. Ông Đỗ Muời cho rằng: “Luận diệu tuyên truyền và sức ép của các thế lực tu bản dế quốc bên ngoài về ‘tu nhân hóa’ dã tác dộng không ít dến nhận thức một số cán bộ, dảng viên ta”. Cuối nam 2000 mà ông Đỗ Muời còn dề nghị quốc doanh nắm lại các ngành vận tải ô-tô, ngành bán buôn và bán lẻ vật tu và hàng hóa tiêu dùng,… vì ông cho rằng dó là những ngành “then chốt của nền kinh tế”553.

Cố vấn Đỗ Muời dua ra nguyên tắc: “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nuớc phải nhằm tang cuờng kinh tế nhà nuớc, chứ không phải làm suy yếu nó”554. Trong một bức thu khác, gửi di ngày 14-11-2000, Cố vấn Đỗ Muời còn dẫn những số liệu cho thấy cổ phần hóa trên thực tế dã không theo dúng những nguyên tắc này555.

Hội nghị Trung uong 3, cho dù họp vào tháng 9-2001, khi ông Đỗ Muời dã thôi cố vấn hon nửa nam, vẫn phải thông qua Nghị quyết 05, theo huớng tuy “dẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nuớc, thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, sáp nhập, giải thể, phá sản doanh nghiệp nhà nuớc”, nhung lại coi “quy mô còn nhỏ là một trong những mặt hạn chế, yếu kém rất nghiêm trọng”. Nghị quyết 05 “trao” cho kinh tế nhà nuớc “vai trò quyết dịnh trong việc giữ vững dịnh huớng xã hội chủ nghia, ổn dịnh và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của dất nuớc”.

Tháng Giêng nam 2004, khi vai trò thái thuợng hoàng của “tam nhân” không còn nhiều, Chính phủ của ông Phan Van Khải mới có thể mạnh tay sắp xếp lại khu vực kinh tế quốc doanh sau khi

dạt duợc thỏa thuận trong Nghị quyết Hội nghị Trung uong 9, khóa IX: “Cổ phần hóa không chỉ duợc dẩy nhanh tiến dộ mà còn duợc mở rộng diện, kể cả một số tổng công ty và doanh nghiệp lớn”.

Phan Van Khải

Cuối thập niên 1990, sau khi ông Phan Van Khải dã trở thành thủ tuớng, gia tộc họ Phan ở Nghệ An có mời ông về nhân một lần nhóm họ, ông Khải cho vợ, bà Nguyễn Thị Sáu, mang quà về. Sự xuất hiện của phu nhân thủ tuớng tại gia tộc họ Phan dã khiến cho nhiều nguời tin vào những lời dồn doán: Ông Phan Van Khải là con của ông Phan Đang Luu556, một nguời từng lãnh dạo Xứ ủy Nam Kỳ.

Trên thực tế, mãi tới nam 1939, Phan Đang Luu mới vào Nam Bộ trong khi ông Phan Van Khải sinh ngày 25-12-1933 tại xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi. Mẹ ông, bà Phan Thị Mung557 là con của ông Phan Van Ngoan558, một nguời có bảy mẫu ruộng, theo Thiên Địa Hội và có uy tín ở trong làng. Ông Ngoan và vợ, bà Trần Thị Luợc 559, chỉ có duợc một nguời con gái sau bốn lần sinh con trai mà không nuôi duợc.

Nam muời chín tuổi, bà Mung mang thai với ông Nguyễn Van Phèn, thuờng gọi là ông Cả Phèn, sinh ra Phan Van Khải. Ông nội ông Cả Phèn từng làm cai tổng vùng Củ Chi. Theo ông Phan Van Khải: “Ông ngoại tôi ghét ông Cả vì mẹ tôi vừa lớn lên, có bầu với ông rồi bị ông bỏ roi. Nhung, trong làng ai cung biết, ông Cả hay dón tôi ở ngoài duờng rồi chở tôi di choi bằng xe dạp. Các ông anh cùng cha cung hiền và một nguời chị gái thì rất thuong tôi. Vợ ông Cả thậm chí thỉnh thoảng còn cho mẹ tôi tiền. Khi tôi di kháng chiến ông Cả có nhắn về dể ông lo cho an học”560.

Ông Phan Van Khải kể: “Khi tôi ra dời thì gia dình phá sản, phải bán dất. Ông ngoại chỉ còn lại một hecta ruộng và một hecta vuờn. Ông không có con trai nên không có lao dộng. Nam 1940 khó khan, ông ngoại phải bán luôn cả cái nhà bằng gỗ. Tôi lớn lên trong hoàn cảnh nghèo nhung ông ngoại vẫn cho di học. Học hết tiểu học, thi lên lớp xong thì Việt Minh cuớp chính quyền, thế là từ dó chỉ ở nhà giữ em, chan trâu, làm thuê; ai kêu gì làm nấy, nhổ dậu, cắt lúa, nhặt dậu”. Chính những công việc này lại là co duyên dể ông Khải “thoát ly”.

Ông Phan Van Khải kể: “Một lần, di chan trâu ở Tân Phú Trung, tôi gặp mấy ông cán bộ xã trốn ở dây, huyện dua giấy tờ về họ dọc không duợc, họ nhờ tôi dọc, riết thành ‘giác ngộ cách mạng’. Nam 1947, tôi về làng tham gia dội thiếu nhi cứu quốc, lập ban chấp hành thiếu nhi cứu quốc, làm thu kýban chấp hành chi dội. Tháng 2-1948, ông Tám Hòa, chủ nhiệm Việt Minh Hóc Môn, thấy tụi tôi khai hội, ông kéo lên huyện họp, lập Ban Chấp hành Thiếu nhi Hóc Môn, tôi là ủy viên. Họp xong, từ An Nhon Tây về nhà, tới Mui Lớn, nghe tin ông bố duợng là chủ nhiệm Việt Minh thôn bị bắn chết, tôi lội bung về thì má vừa chôn cất duợng xong”.

Bố duợng mất khi mẹ dang mang thai, ông Khải dịnh ở nhà làm an dỡ dần mẹ nuôi ông bà. Nhung, ông Khải nói: “Cấp trên thấy tôi lâu không lên, cử một nguời xuống xã Mỹ Hạnh gọi tôi qua. An com xong, tôi nói hoàn cảnh. Vị dại diện này nói một câu: ‘Xã dang cang, mày ở nhà truớc sau cung chết. Nợ nuớc thù nhà, mày phải di mới trả duợc’. Tôi nghi, chết mà không làm tròn nghia vụ thì không dáng làm trai nên quyết dứt áo ra di. Về gặp ông ngoại, ông nói ‘nên di’, bà ngoại dặn, ‘dừng ra noi làn tên, mui dạn’. Không dám gặp má từ giã, tôi viết thu, dặn ông ngoại dợi tôi di rồi mới dua cho má”.

Từ dó, ông Phan Van Khải học cách khai hội, phát biểu truớc thanh niên. Huyện Hóc Môn chia thành nam khu, ông phụ trách công tác doàn dội ở một khu. Nam 1950, ông duợc diều lên Van phòng tỉnh doàn Gia Định. Ông Khải nói: “Tất cả sách vở của Xứ ủy và Trung uong gởi vô, tôi dọc hết. Vừa làm vừa thi vào tiểu học tỉnh Gia Định, dậu thứ chín nhung ông tỉnh doàn truởng không cho di vì có một thằng nó di ai làm. Tôi hứa sẽ vừa làm vừa học, 6, 7 tháng thì xong lớp

4”.

Đầu nam 1954, ông và bà Nguyễn Thị Sáu561 cùng ba nguời bạn khác duợc dua xuống miền Tây học, mới tới Hồng Ngự thì nghe tin Pháp dầu hàng ở Điện Biên Phủ. Ông cùng bà Sáu vào tỉnh ủy, ông bí thu là Nguyễn Trọng Tuyển, giữ lại an com. Đang an thì ông Tô Ký di họp về, ngồi vào bàn, nói: “Cho mấy dứa này ra Bắc học”. Tháng 10-1954, hai nguời cùng lên một chuyến tàu của nguời Pháp chạy ra Sầm Son, Thanh Hóa.

Ông Phan Van Khải kể: “Lúc dầu mấy ông dịnh cho di học, nhung sau lại dua di làm giảm tô dợt 7. Truớc khi di, ông Tố Hữu tới giáo huấn một buổi rồi dua xuống Bình Nghia, duợc bố trí ở trong một nhà nghèo. Mùa dông, di cày, di cấy, rét gần chết. Nam ấy, dân tình rất dói. Tôi thấy một bãi dất rộng khoảng hai muoi hecta, liền kêu gọi thanh niên trồng khoai lang. Đoàn về kiểm tra, thấy có thằng miền Nam nang nổ, quyết dịnh tặng Huân chuong Lao dộng hạng III, nhung

khi huân chuong về thì tôi dã duợc dua lên Son Tây, học truờng cải cách ruộng dất. Học xong duợc phân công về xã Võng Xuyên, Phúc Thọ, Hà Tây. Mấy ông Đội khác rất hống hách. Ở Võng Xuyên, Đội tôi cung có bắn một cai tổng vì duợc tố là dã giết chết nhiều nguời ở gốc da dầu làng. Lúc dó tôi là dội phó”.

Trong thời gian dó, bà Nguyễn Thị Sáu duợc dua di học Đại học Nhân dân, truờng do ông Phạm Van Đồng kiêm hiệu truởng. Bà Sáu và ông Khải bắt dầu phải lòng nhau từ khi bị kẹt lại ở Hồng Ngự, mối quan hệ này trở thành tình yêu trong những ngày họ cùng ở trên dất Bắc. Ngày 16-8-

1956, tại Y ên Mỹ, noi ông dang làm cải cách ruộng dất, họ chính thức làm lễ cuới với sự chứng kiến của ông chú ruột của ông Khải, nguyên chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Chợ Lớn, cùng tập kết.

Tháng 9-1956, ông Khải nhận duợc thu của Ban Tổ chức Trung uong kêu về học truờng Bổ túc Công nông Trung uong, noi mà những nguời nổi tiếng lúc dó nhu anh hùng Ngô Gia Khảm, anh hùng La Van Cầu dang học. Ông Phan Van Khải kể: “Truờng bắt dầu với hai lớp, 4 và 5, tôi thi dậu vào lớp 5. Tôi học hết 6 lớp trong ba nam thay vì theo quy dịnh là bốn nam, vừa học vừa làm công tác Đoàn toàn truờng. Nam 1957, vợ tôi sinh con trai dầu lòng, hàng ngày tôi di bộ từ truờng về nhà ở số 4 Thụy Khê. Nam 1959, ông anh vợ mới dành tiền, thuong, mua cho cái xe dạp. Sáng vô truờng mua nắm xôi, vừa lật bài, vừa an, vừa học. Học hết cấp III tôi thi dậu vào bách khoa, dịnh sẽ làm kỹ su diện nhung vừa nhận chức lớp truởng thì có quyết dịnh qua truờng ngoại ngữ, ở dó, 1/3 sinh viên học tiếng Trung Quốc, 2/3 học tiếng Nga. Tôi học tiếng Nga rồi di Liên Xô học ngành kinh tế kế hoạch”.

Nam 1965, tốt nghiệp về nuớc, ông Khải muốn di dạy nhung bà Sáu, lúc ấy làm ở Ủy ban Kế hoạch Nhà nuớc, muốn ông về cùng. Ba nam sau ông duợc cử giữ chức truởng phòng. Đến nam 1972, chuẩn bị ký Hiệp dịnh Paris, ông Lê Duẩn có kế hoạch lập chính phủ ba thành phần, ông Khải cùng một số cán bộ duợc dua vào Trung uong Cục. Khi kế hoạch này bất thành, hè nam 1973, ông ra Bắc trở lại nhận một chức vụ phó ở Ủy ban Thống nhất. Tháng Giêng nam 1976, ông Phan Van Khải duợc dua về Sài Gòn. Lúc này, Ủy ban Nhân dân Cách mạng vừa duợc thành lập, ông Khải duợc bổ nhiệm làm phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch, ông Võ Van Kiệt khi ấy là chủ tịch Thành phố kiêm chủ nhiệm.

Ông Phan Van Khải là một cán bộ mẫn cán. Thật khó dể dánh giá ông là một nguời không muốn tranh dua danh vọng hay là một nguời không muốn dặt mình trong các tâm diểm của dấu truờng.

Khi về Sài Gòn, ông Truởng Ban Tổ chức Truong Van Tu hỏi: “Mày về dây muốn làm chức gì?”. Ông Khải trả lời: “Ở ngoài kia, cháu vụ phó, chú có thể giao cháu làm phó chủ nhiệm Ủy ban, nếu một thời gian thấy cháu không làm duợc thì cho cháu thôi”. Một nam sau ông Tu nói: “Mấy ổng kêu mày khá”.

Làm phó cho ông Võ Van Kiệt muốn duợc khen thì phải vô cùng nỗ lực. Ông Phan Van Khải kể: “Khi ở Liên Xô về, tôi cân nặng 52 kg, vào Thành phố một thời gian còn 43 kg, Thành phố cho ra Thanh Đa an duỡng lên duợc 3 kg”. Nam 1976, ông Phan Van Khải duợc giới thiệu vô Thành

ủy nhung dã rút lui dể không chia phiếu của ông Vu Đại, một nguời dồng cấp lớn tuổi. Nhung từ khi dó, ông dã là nguời duợc ông Lê Đức Thọ xếp vào diện cán bộ nguồn. Nam 1978, ông duợc Ban Bí thu chỉ dịnh làm Thành ủy viên, nam sau, 1979, duợc dua bổ sung làm phó chủ tịch trực Ủy ban Nhân dân Thành phố kiêm chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch.

Những nam dầu thập niên 1980, ông Phan Van Khải dã sử dụng các thuong nhân nguời Hoa, lập các trạm thu mua nông sản dể xuất khẩu. Ông cung duợc ông Võ Van Kiệt, khi dó dã là phó chủ tịch Hội dồng Bộ truởng, ủng hộ lập công ty vận tải biển Saigonship. Ông cung là nguời chủ truong mở duờng cho tu nhân ở Thành phố duợc làm xam lốp ô tô, xe dạp,…

Giai doạn này, ông Nguyễn Van Linh duợc diều trở lại thay ông Kiệt làm bí thu Thành ủy. Theo ông Khải: “Khi mới về gặp công nhân, ông Nguyễn Van Linh nói: Bây giờ chúng ta làm chủ nhà máy, xí nghiệp. Công nhân nói: Hồi xua làm thuê chúng tôi có việc làm bây giờ làm chủ thì chúng tôi không có việc làm nữa. Ông Linh tỉnh ra. Ông Linh cung dổi mới nhung không phải bắt dầu bằng sự lan lộn, nghiên cứu, tổng kết nhu ông Kiệt”.

Thời gian dó, Thành phố buon chải trong một khung cảnh, nhận thức của nhiều dịa phuong còn ấu tri. Ông Phan Van Khải nhớ lại: “Thấy chúng tôi thu mua luong thực, thực phẩm, bí thu Đồng Nai than: Chiều chiều thấy bắp, trái chở về Sài Gòn là tôi lại xót xa. Trong một hội nghị ở Vinh Long, có nguời nói: Gạo thịt của chúng tôi bị chở về Thành phố hết. Chủ trì hội nghị, ông Kiệt nói: Sau này, nếu Thành phố không tiêu thụ thì dân họ sẽ níu áo ông vì bán không duợc dấy”.

Cuối thập niên 1970, ông Phan Van Khải luôn có mặt bên cạnh ông Kiệt trong những chuyến di co sở gỡ rối cho doanh nghiệp. Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, ông, một nguời duợc dào tạo về kinh tế kế hoạch hóa ở Liên Xô, bắt dầu nhận thấy nhu cầu tìm hiểu nền kinh tế của các nuớc phuong Tây. Từ Sài Gòn, ông Phan Van Khải dề nghị Bộ Chính trị cho ông tổ chức một doàn nghiên cứu di các nuớc trong khu vực. Mục dích của chuyến di duợc dề nghị công khai là “tham

dò co hội dầu tu và thái dộ của các nuớc ASEAN dối với chính sách dổi mới của Việt Nam”.

Tháng 9-1988, dề nghị của ông Khải duợc Bộ Chính trị dồng ý sau nhiều lần thảo luận.

Ông Phan Van Khải lúc dó là chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhung xin visa với danh nghia là truởng doàn doanh nhân Thành phố. Theo ông Nguyễn Van Kích, thu ký ông Khải: “Lúc dầu Đoàn dự dịnh di nam nuớc, bao gồm cả Hồng Kông, nhung sau khi di Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, do có vài trục trặc nên chuyến di dến Hồng Kông không thực hiện”.

Chuyến di duợc sắp dặt bởi Charles Đức. Ở Singapore, theo ông Võ Tá Hân: “Tôi bỏ việc dể dua doàn tham quan. Vì chua có quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Singapore nên Đoàn không thể tham trực tiếp nhiều chỗ, chẳng hạn nhu khi muốn xem cảng Singapore thì tôi phải dua lên tầng cao tòa nhà IBM dang xây của tập doàn CDL – Hong Leong dể ngắm”.

Sau mấy ngày tham Singapore, ông Khải muốn có một buổi nói chuyện và câu hỏi mà ông dặt ra là, “Việt Nam phải làm gì dể di theo con duờng của Singapore?”. Chiều 28-9-1988, Đoàn họp tại Vietnam Trade House 562. Ông Luong Van Tự khi ấy dang là truởng dại diện thuong mại của Việt Nam tại Singapore chủ trì. Ông Võ Tá Hân, diễn giả duợc ông Tự mời dến cuộc họp này, kể: “Buổi họp kéo dài khoảng bốn tiếng dồng hồ. Tôi chuẩn bị muời bốn trang ghi chú viết tay, diểm qua mọi vấn dề nhu dâu là nam thế mạnh của Việt Nam, chiến thuật giúp tang truởng kinh tế, chống lạm phát phi mã, và nói về việc chống tham nhung… Tôi bắt dầu buổi họp bằng một câu phát biểu rất ngắn gọn: Việc dầu tiên là các anh phải dể dân chúng tự do làm an!”.

Trong cuộc họp này, ông Hân mang theo một chồng sách tặng ông Phan Van Khải, trong dó có cuốn Singapore, The Socialist Model That Works. Theo ông Hân: “Tôi nói với ông, Singapore thực sự cung là một mô hình xã hội chủ nghia. Họ chỉ có một dảng cầm quyền là Đảng Hành Động Nhân Dân563 và dảng này, mỗi lần viết các van bản nội bộ, thuờng bắt dầu bằng câu ‘Dear Comrades’ mà Việt Nam vẫn dịch là ‘Thua các dồng chí’”. Trua thứ Sáu, 30-9-1988, thông qua sự thu xếp của ông Hân, Canadian Business Association tổ chức cho Đoàn một cuộc gặp tại Tanglin Club, hội quán lâu dời và uy tín nhất ở Singapore.

Ông Hân kể: “Truớc khi buớc lên thang lầu dể vào phòng họp, tôi dứng chụp một bức hình kỷ niệm với ông Khải noi chân cầu thang. Thấy ông Khải rút diếu thuốc dịnh bật lửa dể hút, tay hoi run, tôi bèn nói: anh Khải oi, mình dang ở trong phòng lạnh, họ không cho mình hút thuốc; rồi

trấn an dể ông ấy lên tinh thần: anh phải hang hái lên vì thế giới họ vẫn coi mình là cọp dó! Ông Khải trả lời với giọng Nam rặc: cọp gì! cọp… dói!”.

Theo lời mời của CBA, sứ quán Mỹ và Canada tại Singapore dã cử hai vị phó dại sứ dến tham dự. Ông Khải tự giới thiệu là dại biểu quốc hội, chủ tịch Thành phố564. Tuy không cấm vận thuong mại Việt Nam nhung dể bày tỏ thái dộ truớc việc Việt Nam dua quân tới Campuchia, Singapore không cho các công ty nhà nuớc và công ty nhận bảo trợ của nhà nuớc có quan hệ thuong mại với Việt Nam. Chính quyền cung phản dối các doanh nghiệp Singapore cung cấp cho

Việt Nam những vật tu chiến luợc và giúp Việt Nam phát triển hạ tầng. Chính vì vậy, bài diễn van của ông Phan Van Khải duợc mở dầu bằng thông tin “việc rút quân khỏi Campuchia có thể hoàn thành truớc nam 1990”. Ông Khải nói: “Chúng tôi hy vọng với việc rút quân này, Mỹ không còn lý do gì dể tiếp tục áp dụng cấm vận thuong mại lên Việt Nam”.

Ông Khải nói một cách chân thành: “Chuyến di của chúng tôi là nhằm tìm kiếm một cái nhìn bên trong những thành tựu của các quốc gia Đông Nam Á. Những diều dã tạo nên sự phát triển kỳ diệu và giải quyết các vấn dề kinh tế xã hội một cách thành công. Chúng tôi tin rằng những diều dó có thể trở thành bài học tốt cho Việt Nam”.

Ông Khải giới thiệu dôi nét về các chính sách mới ban hành kêu gọi dầu tu nuớc ngoài nhu Luật Đầu tu 1987, Nghị dịnh 139, rồi ông nói: “Cánh cửa giờ dây dã mở ra. Chúng tôi muốn làm an với các quốc gia trên thế giới dặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á”. Sau cuộc họp, CBA tổ chức một cuộc họp báo, mời bốn co quan truyền thông: Reuters, Straits Times Singapore,

Sunday Times và một tờ báo Nhật Bản.

Chính quyền Singapore dã phản ứng sau khi tờ Sunday Times, số ra ngày Chủ nhật 2-10-1988

dua tin về “tiệc trua” tại CBA. Ông Khải dến Singapore cùng muời nguời khác theo visa cá nhân, “khách hàng” duợc hai công ty Singapore, Thai Hing Long và Imkov Shipping, mời và bảo lãnh. Nhung hoạt dộng của ông bị nhà báo Mike Yeong mô tả: “Khi dến Singapore, họ hợp thành nhóm, cùng với hai quan chức từ co quan dại diện thuong mại của Việt Nam tại Singapore, tự giới thiệu là phái doàn thuong mại Việt Nam và hoạt dộng ngoài khuôn khổ những gì duợc chỉ ra trong visa”.

Chính quyền, nhu duợc cảnh báo sau bài tuờng thuật của Sunday Times, dã nhắc nhở ông Luong Van Tự, nếu vi phạm hon thế hoặc tiếp tục vi phạm nhu thế thì sẽ “không duợc tha thứ” và “việc xin visa của các doanh nhân Việt Nam sẽ bị khó khan hon”. Bộ Ngoại giao Singapore cung

“dọa” trục xuất ông Võ Tá Hân. Theo ông Luong Van Tự: “Khi thấy tôi bị Bộ Ngoại giao Singapore triệu tập phê bình vì tự tiện tổ chức họp báo, ở nhà cung xôn xao, nhung tôi bình tinh vì biết họ sẽ chỉ làm diều này nhu một thủ tục, chính quyền Singapore lúc dó bắt dầu muốn nối lại làm an với Việt Nam”565.

Sau chuyến di, ông Phan Van Khải có làm một bản báo cáo gửi Bộ Chính trị và Hội dồng Bộ truởng. Theo ông Nguyễn Van Kích, nguời chấp bút bản báo cáo này, sau khi diểm qua những hoạt dộng và ghi nhận chính của Đoàn trong chuyến di, ông Khải dua ra ba kiến nghị: cần sớm xác lập quan hệ với ASEAN, phải coi ASEAN là dối tác thay vì dối dầu; chỉ có trong kinh tế thị truờng các nguồn lực và tài nguyên của dất nuớc mới duợc phát huy dúng mức; các nuớc sẵn sàng dầu tu tại Việt Nam miễn là mình có chính sách bảo vệ duợc dồng vốn cho họ. Ông Kích kể rằng, trong suốt chuyến di, câu nói

của Lý Quang Diệu mà Đoàn tâm dắc nhất là: Kinh tế thị truờng + tổ chức xã hội theo kiểu xã hội chủ nghia = Singapore.

Uy tín của ông Phan Van Khải bắt dầu lên cao, nhung khi ấy ông vẫn ở Sài Gòn lại thuộc thành phần tập kết. Ông Phan Minh Tánh kể, phó bí thu Thành ủy, ông Bảy Dự Nguyễn Võ Danh, từng nói: “Bắc Kỳ dã rất khó ua nhung còn dỡ hon dân tập kết”. Ông Khải vẫn duợc coi là một nguời của ông Võ Van Kiệt, trong khi thế hệ lãnh dạo mới ở Sài Gòn hiện dã ở trong tầm ảnh huởng của ông Nguyễn Van Linh. Tháng 4-1989, ông Phan Van Khải duợc diều ra Hà Nội566.

Tuy nhiên, việc ông Khải ra Hà Nội giữ chức chủ nghiệm Ủy ban Nhà nuớc thay thế ông Đậu Ngọc Xuân dã giúp ông chứng tỏ khả nang nắm bắt các vấn dề vi mô và hình thành các chính sách ở tầm quốc gia. Vừa nhận chức, ông Khải dã duợc ông Đỗ Muời giao dứng dầu nhóm soạn thảo “Chiến luợc ổn dịnh và phát triển kinh tế xã hội dến nam 2000”, công việc mà những nguời chủ trì truớc dó dã không làm ông Muời vừa ý. Ông Phan Van Khải ngay sau dó duợc cử làm truởng doàn thực hiện một chuyến “khảo sát kinh nghiệm phát triển kinh tế ở bốn nuớc châu

Á”567.

Chuyến di, theo ông Phan Van Khải, có ảnh huởng trực tiếp vào quá trình biên soạn “Chiến luợc ổn dịnh và phát triển kinh tế xã hội dến nam 2000”. Không chỉ làm việc trong những phiên chính thức, khi dã trở về khách sạn, ông Phan Van Khải, ông Trần Đức Nguyên lại ngồi với Giáo su Davis Dapice, ông Thomas Valleley 568. Ông Khải thừa nhận dây là những ngày ông ở trong

tâm thế của một nguời di học và những gì ông thu nhận duợc có ảnh huởng rất lớn dến tiến trình hình thành các chính sách xây dựng nền kinh tế thị truờng ở Việt Nam trong thập niên 1990. Thật khó dể nói ông Phan Van Khải là “nguời của ai” nhu cách mà những nguời quan tâm dến chính truờng vẫn thuờng lý giải khi có ai dó duợc cất nhắc lên hàng lãnh dạo. Ông duợc dào tạo từ Liên Xô, dủ dộ tin cậy cho những nguời muốn duy trì dịnh huớng xã hội chủ nghia. Ông cung từng là chủ tịch một thành phố nang dộng nhu Sài Gòn, ủng hộ Bí thu Võ Van Kiệt thời kỳ xé rào, tiếp tục phát triển những thành quả dổi mới duới thời Bí thu Thành ủy Nguyễn Van Linh, và vào Trung uong nam 1982 với hậu thuẫn của ông Lê Đức Thọ.

Nam 1991, Thành phố có một nỗ lực nữa dể ngan cản ông Phan Van Khải vào Bộ Chính trị. Ông Khải kể: “Truớc Đại hội, ông Hai Chí, Bảy Dự và giám dốc Công an Thành phố ra Hà Nội xin gặp Ban Tổ chức Trung uong dể tố cáo tôi khai lý lịch không dúng nhung Ban Tổ chức không tiếp, nói vấn dề dó dã duợc xác minh. Họ gặp ông Nguyễn Van Linh. Khi vấn dề duợc dua ra Bộ Chính trị, ông Võ Van Kiệt nói: Chuyện buồn thời xua, sao Bộ Chính trị cứ hạch sách nguời ta hoài. Nếu xét lý lịch thì xét anh Khải có làm gì phản dộng không, anh ấy có dủ tiêu chuẩn vào Bộ Chính trị không, còn chuyện anh ấy con ai thì tôi dề nghị Bộ Chính trị thôi”. Theo ông Phan Van Khải: “Ngay từ khi bắt dầu tham gia cách mạng tôi luôn khai rõ tôi là con ngoài giá thú”.

Sau Đại hội, ông Phan Van Khải duợc cử làm phó thủ tuớng thuờng trực. Trong suốt hon sáu nam làm thủ tuớng, ông Võ Van Kiệt dã hành dộng nhu một dầu tàu, nhu một cỗ xe tang di truớc, che chắn cho các ý tuởng cải cách và dua ra những quyết dịnh lớn. Việc diều hành sự vụ và tiến trình soạn thảo các chính sách duợc giao cho Phó Thủ tuớng Phan Van Khải.

Ông Kiệt dánh giá ông Phan Van Khải là “một nhà kinh tế hàng dầu của dất nuớc”569 nhung trong thâm tâm ông vẫn cho rằng ông Khải là một nguời thiếu quyết doán dể dóng vai trò dứng dầu. Đến phút chót, ông Võ Van Kiệt mới chính thức giới thiệu ông Phan Van Khải nhu một nguời kế nhiệm mình. Theo ông Phan Van Khải: “Lúc dầu, ông Lê Đức Anh cản. Cùng lúc có nhiều tin dồn về con trai tôi duợc tung ra570. Vì những tin ấy, ở dại hội tôi mất hon một tram phiếu”571.

Ông Võ Van Kiệt không hài lòng lắm về khả nang quyết doán của ông Phan Van Khải nhung ông biết ông Khải là nguời tiếp tục tốt nhất các chính sách dua nền kinh tế phát triển theo huớng thị truờng. Những nguời nhu ông Đỗ Muời biết rõ nguời kế vị mình, Tổng Bí thu Lê Khả Phiêu,

vừa quá cứng rắn lại vừa hiểu biết không nhiều về kinh tế. Vai trò “nhà kinh tế hàng dầu” của ông Khải buộc các khuynh huớng quyền lực lựa chọn ông.

“Sân choi” không bình dẳng

Tu duy của các nhà lãnh dạo dóng một vai trò vô cùng quyết dịnh dối với từng giai doạn phát triển của dất nuớc. Xét duới góc dộ chính sách, trong thập niên 1990, hai nhân vật có ảnh huởng lớn nhất là Tổng Bí thu Đỗ Muời và Thủ tuớng Võ Van Kiệt. Theo ông Phan Van Khải, diểm khác nhau can bản giữa ông Võ Van Kiệt và ông Đỗ Muời là một bên, ông Kiệt, muốn dặt hiệu quả của nền kinh tế lên hàng dầu; một bên, ông Muời, muốn xác dịnh quốc doanh là chủ dạo.

Giữa nam 1997, Chính phủ của Thủ tuớng Võ Van Kiệt bắt dầu soạn thảo một nghị quyết trình Ban Chấp hành Trung uong Đảng dể làm co sở cho việc ban hành những chính sách tiếp tục dổi mới và thúc dẩy kinh tế nhiều thành phần. Công việc dang dở dang thì tháng 9-1997, ông Võ

Van Kiệt bàn giao chức thủ tuớng.

Để trình ra Hội nghị Trung uong, dự thảo nghị quyết này duợc Thủ tuớng kế nhiệm Phan Van Khải dặt tên là “Tiếp tục dẩy mạnh công cuộc dổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế, cần kiệm dể công nghiệp hóa, phấn dấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế – xã hội dến nam 2000”. Dự thảo nghị quyết dề cập dến nhiều linh vực nhu tín dụng, ngân hàng, dất dai. với ý dịnh tạo ra một môi truờng pháp lý bình dẳng cho các thành phần kinh tế.

Sau tháng 9-1997, ông Đỗ Muời tiếp tục làm tổng bí thu. Thu ký của ông Đỗ Muời, Tiến sỹ Nguyễn Van Nam, nói: “Đụng dến doanh nghiệp nhà nuớc là dụng dến vấn dề dịnh huớng. Họp lên họp xuống mấy tháng trời mà cứ dẫm chân tại chỗ. Ông Phan Van Khải và ông Trần Xuân

Giá rất than. Tôi nói với ông Đỗ Muời: Hai bên dang có những nghi vấn lẫn nhau, anh nghi Chính phủ dổi mới quá, thị truờng quá; Chính phủ nghi anh bảo thủ quá, tôn sùng co chế cu quá. Anh không nên dể tình trạng này kéo dài. Ông Muời trong thâm sâu rất sợ bị coi là bảo thủ”.

Dự thảo “dẩy mạnh dổi mới kinh tế” duợc dua ra thông qua tại Hội nghị Trung uong 4, họp vào tháng 12-1997. Đây là hội nghị trung uong cuối cùng ông Đỗ Muời chủ trì với tu cách tổng bí thu. Những nguời soạn thảo trấn an các nhà lý luận của Đảng bằng những khẩu hiệu khẳng dịnh quan diểm lập truờng: “Tang cuờng sự lãnh dạo của Đảng”, “Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý”, dồng thời “cài cắm” không ít quan diểm mới: “Xoá bao cấp tín dụng”, “Đặt các doanh nghiệp nhà nuớc trong môi truờng cạnh tranh theo pháp luật”. Nghị quyết Trung uong 4 là co sở chính trị dể Chính phủ Phan Van Khải tiến hành sửa dổi Luật Đất dai, bãi bỏ những tội

danh trong Bộ Luật Hình sự vốn duợc hình thành trên co sở nền kinh tế tập trung quan liêu, xây dựng Luật Doanh nghiệp 1999 trên nền tảng “nguời dân duợc làm những gì pháp luật không cấm”.

Nghị quyết Trung uong 4, khóa VIII cung là co sở chính trị dể Chính phủ của Thủ tuớng Phan Van Khải thay thế Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp Tu nhân bằng một luật mới chung cho mọi loại hình doanh nghiệp. Ông Phan Van Khải nói: “Một khi mà các sản phẩm chính vẫn nằm trong tay quốc doanh, một khi quốc doanh vẫn còn dộc quyền thì không thể có cạnh tranh, không thể có bình dẳng trong kinh doanh, không thể có kinh tế thị truờng thực thụ”.

Nền kinh tế Việt Nam bắt dầu mang một sắc thái mới khi khu vực kinh tế tu nhân chiếm tỉ trọng lớn dần572. Tuy nhiên, luật lệ vẫn duợc ban hành bởi bộ máy hành chính quan liêu, chính sách vẫn duợc hình thành dựa trên nền tảng tu duy “xin-cho” khiến cho việc thành lập doanh nghiệp và xin giấy phép kinh doanh gặp rất nhiều khó khan573. Nguời kinh doanh phải mất hàng tháng dể xin một giấy phép chuyên ngành trong khi thời hạn mỗi giấy phép nhu vậy thuờng chỉ có giá trị trong vòng một nam. Giấy phép kinh doanh cấp ở dịa phuong này lại thuờng không có giá trị khi mở thêm một co sở kinh doanh ở dịa phuong khác.

Ngay trong nam 1998, Chính phủ của Thủ tuớng Phan Van Khải bắt tay soạn thảo Luật Doanh nghiệp, với tham vọng chỉ cần một luật này dã dủ dể áp dụng cho không chỉ các loại hình kinh doanh tu nhân mà còn áp dụng cho cả các doanh nghiệp nhà nuớc và doanh nghiệp có vốn dầu tu nuớc ngoài duới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Mục tiêu nhắm tới là tự do kinh doanh, Nhà nuớc chỉ duy trì những giấy phép thật sự cần thiết dối với một số ngành hạn chế, thay thế co chế xin cho bằng co chế dang kí kinh doanh với những thủ tục duợc tối da don giản hóa.

Tuy nhiên, thiết lập một “sân choi bình dẳng” nhu ngôn ngữ của những nam cuối thập niên 1990 và dua dịa vị kinh tế tu nhân lên ngang hàng với kinh tế quốc doanh không phải là một con duờng dễ dàng. Ngay trong Hội nghị Trung uong 4, tháng 12-1997, một truởng ban của Đảng nói: “Sở hữu tu nhân mạnh lên là nền tảng dể xây dựng lực luợng chính trị; dể cho kinh tế tu nhân phát triển cung coi nhu dể cho chúng nó dào mồ chôn chúng ta”. Quan diểm ấyduợc nhiều ủy viên Trung uong và ủyviên Bộ Chính trị tán dồng.

Ông Trần Xuân Giá, nguời chủ trì soạn thảo Nghị quyết Trung uong 4 và sau dó soạn thảo Luật Doanh nghiệp 574, nói: “Các nhà lý luận của Đảng, nguời thì tuyên bố công khai trên báo chí,

nguời thì nói trong hội nghị Trung uong dều thể hiện bản chất dổi mới nửa vời, ép thì dổi chứ không mới. Cuộc dấu tranh dai dẳng về sở hữu, về mức dộ phát triển tới dâu của kinh tế thị truờng, dâu là phạm vi, dâu là giới hạn, vẫn không phân thắng bại. Đó là cuộc dấu tranh của tuong quan lực luợng. Sau khi ông Kiệt nghỉ, nếu không có ông Khải là thua”.

Quan diểm nguời dân duợc làm những gì pháp luật không cấm, lập doanh nghiệp không cần khai vốn diều lệ, dang ký thay thế cho xin phép, theo ông Trần Xuân Giá, bị phê phán ở các cuộc họp Bộ Chính trị bàn về Luật Doanh nghiệp. Phó Chủ tịch nuớc Nguyễn Thị Bình ngồi nghe và khi giải lao dã nói với ông Trần Xuân Giá: “Tôi không muốn chống anh nhung tôi hỏi thật, làm luật nhu thế này thì chúng ta có còn di theo chủ nghia xã hội?”.

Chiều ngày 29-5-1999, Quốc hội biểu quyết thông qua toàn van Luật Doanh nghiệp, Luật bắt dầu có hiệu lực kể từ ngày1-1-2000. Ngay trong nam 2000, số luợng doanh nghiệp mới duợc lập dã tang gấp ba lần nam 1999575. Tuy nhiên cuộc dấu tranh cho một môi truờng tự do kinh doanh chỉ mới bắt dầu.

Luật Doanh nghiệp ra dời làm mất hiệu lực của hàng ngàn thủ tục xin cho. Trong khi hàng ngàn giấy phép khác vẫn dang duợc các dịa phuong, các bộ ngành che chở. Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp do Bộ truởng Trần Xuân Giá làm tổ truởng dã duợc Thủ tuớng Phan Van Khải thành lập. Các tổ viên gồm Lê Đang Doanh, Phạm Chi Lan, Vu Quốc Tuấn và thu ký Nguyễn Đình Cung. Ngoài chức nang tu vấn trực tiếp cho thủ tuớng, thời Chính phủ Phan Van Khải, Ban Nghiên cứu của thủ tuớng còn hoạt dộng nhu một chỗ dựa, dồng thanh tuong ứng với Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp.

Hon một tháng sau khi Luật Doanh nghiệp bắt dầu có hiệu lực, ngày 3-2-2000, Thủ tuớng Phan Van Khải dã ký quyết dịnh bãi bỏ tám muoi bốn giấy phép con, quyết dịnh này duợc coi là một món quà Tết của Thủ tuớng dối với các nhà doanh nghiệp. Truớc dó, Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp duợc báo chí ủng hộ, dã phải “chiến dấu” khá cam go với các bộ truởng chỉ vì phía sau mỗi tờ giấy phép là bổng lộc và quyền hành.

Ngày 1-8-2000, quyết dịnh bãi bỏ giấy phép lần thứ hai duợc dua ra, lần này duới dạng chính phủ ban hành một nghị dịnh theo dó, bãi bỏ hai muoi bảy giấy phép và chuyển ba muoi bốn giấy phép thành diều kiện kinh doanh. Những nam sau dó, gần 500 giấy phép con dã bị Thủ tuớng Phan Van Khải bãi bỏ, trong dó có những loại giấy phép nhu giấy phép xuất bản catalog kèm theo máy ảnh, giấy phép hành nghề in roneo, giấy phép hành nghề photocopy, giấy phép dánh

máy chữ, giấy chứng nhận dủ diều kiện kinh doanh phế liệu, phế thải kim loại, giấy vụn, thủy tinh vụn…

Sau ba nam thi hành Luật Doanh nghiệp, nam 2003, Việt Nam dã tang duợc hai bậc trong bảng xếp hạng của Diễn dàn Kinh tế Thế giới về nang lực cạnh tranh toàn cầu. Theo bảng xếp hạng này, nang lực cạnh tranh tang truởng của Việt Nam nam 2003 tang sáu bậc nếu xếp hạng trên tám muoi nền kinh tế của nam 2002, hoặc tang hai bậc nếu xếp hạng trên 102 nền kinh tế của nam 2003576.

Cùng với việc bãi bỏ các loại thủ tục, các loại giấy phép, theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp, thái dộ cửa quyền của các co quan thuế, hải quan dã giảm dáng kể, giúp các doanh nghiệp tiết kiệm duợc những chi phí về thời gian và tiền bạc. Cho dến lúc ấy, kết cấu hạ tầng và bộ máy hành chính nhà nuớc của Việt Nam vẫn còn yếu kém577.

Nhung, “sự trỗi dậy của hàng loạt giấy phép kinh doanh” vẫn tựa nhu “dầu Phạm Nhan”, cắt chỗ này lại mọc lên chỗ khác. Các bộ, ngành, khi dự thảo luật dã cài cắm các quy dịnh dể khi thi hành những quy dịnh này lại dẻ ra giấy phép. Theo bà Phạm Chi Lan, dại biểu quốc hội cung có thể bị “cài bẫy” bởi những diều khoản chung thì co quan soạn thảo viết hay dến nỗi có dại biểu Quốc hội phải kêu lên là mở quá, thoáng quá, dể rồi khi thiết kế những diều cụ thể họ mới bắt dầu trói lại578.

Từ 2001-2005, Thủ tuớng Phan Van Khải dã ba lần ra chỉ thị yêu cầu các dịa phuong, các ngành bãi bỏ các quy dịnh trái thẩm quyền nhung, cứ bỏ giấy phép này thì lại nảy sinh thêm nhiều giấy phép khác. Cuối nam 2005, danh sách giấy phép cần bãi bỏ vẫn còn lên tới con số 300: bốn muoi mốt giấy phép thuộc ngành van hóa thông tin; ba muoi bảy giấy phép thuộc ngành nông nghiệp; ba muoi tu giấy phép thuộc ngành ngân hàng; hai muoi tu giấy phép thuộc ngành tài chính.

Sự phục hồi các loại giấy phép con tiếp tục làm cho môi truờng dầu tu kinh doanh ở Việt Nam chậm duợc cải thiện. Nam 2005, theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam vẫn phải mất tới sáu muoi ba ngày dể hoàn tất các thủ tục pháp lý kinh doanh trong khi việc này ở Úc chỉ mất khoảng hai ngày. Ở Đan Mạch, nguời khởi nghiệp kinh doanh không phải tốn một chi phí nào dể có thể hoạt dộng thì ở Việt Nam phải mất khoản phí tổn bằng gần 30% mức thu nhập bình quân GDP579.

Từ giữa nam 2006, Tổ Công tác thi hành luật Doanh nghiệp trình danh sách 122 loại giấy phép cần bãi bỏ, sau khi nghiên cứu hon 300 loại giấy phép duợc quy dịnh trong 400 loại van bản, dồng thời kiến nghị bổ sung, sửa dổi 247 loại giấy phép khác. Thế nhung khi mới thảo luận ở

tầm chuyên viên, số giấy phép dề nghị bãi bỏ dã bị cắt giảm từ 122 xuống còn bốn muoi hai và khi dua ra lấy ý kiến các bộ ngành thì ý kiến của Tổ Công tác dã bị các bộ, ngành dồng thanh phản dối.

Ông Phan Van Khải chua kịp ký quyết dịnh bãi bỏ nốt số giấy phép này khi kết thúc nhiệm kỳ. Nguời kế nhiệm, Thủ tuớng Nguyễn Tấn Dung, không chỉ dể cho các giấy phép cu tiếp tục “hành dân” mà còn bỏ mặc các dịa phuong, các ban ngành nữa, sinh thêm nhiều “giấy phép”.

Chuong XXII: Thế hệ khác

Cho dù trong Bộ chính trị khóa X (2006-2011) vẫn có những nguời truởng thành qua chiến tranh, họ bắt dầu thuộc thế hệ “làm cán bộ” chứ không còn là thế hệ của những “nhà cách mạng”. Nếu có khả nang nắm bắt các giá trị của thời dại và có khát vọng làm cho nguời dân duợc ngẩng cao dầu, họ hoàn toàn có co hội chính trị dể dua Việt Nam buớc sang một trang sử mới. Ngay cả khi duy trì phuong thức nắm giữ quyền bính tuyệt dối hiện thời, nếu lợi ích của nhân dân và sự phát triển quốc gia duợc dặt lên hàng dầu, họ có thể trao cho nguời dân quyền sở hữu dất dai, lấy da sở hữu thay cho sở hữu toàn dân; họ có quyền chọn phuong thức kinh tế hiệu quả nhất làm chủ dạo thay vì lấy kinh tế nhà nuớc làm chủ dạo. Vẫn còn quá sớm dể nói về họ. Khi cuốn sách này ra dời, họ vẫn dang nắm giữ trong tay mình vận hội của chính họ và dất nuớc.

Nguời kế nhiệm

Theo ông Phan Van Khải, khi tham dò ý kiến chuẩn bị nhân sự cho Đại hội X, các ban ngành dánh giá ông Vu Khoan cao hon. Một trong những “ban, ngành” nhiệt tình ủng hộ ông Vu Khoan là Ban Nghiên cứu của thủ tuớng. Thời ông Phan Van Khải, truớc khi chính phủ ban hành bất cứ van bản nào, thủ tuớng cung dều chuyển cho Ban Nghiên cứu xem truớc. Các van bản hay bị Ban Nghiên cứu có ý kiến lại thuờng duợc dua lên từ Van phòng Phó Thủ tuớng Thuờng trực Nguyễn Tấn Dung.

Ông Khải thừa nhận, thâm tâm ông cảm tình với ông Vu Khoan hon, tuy nhiên, phần vì Vu Khoan bị coi là thiếu thực tế trong nuớc, phần vì ông dã lớn tuổi – Vu Khoan sinh nam 1937, cùng nam sinh với các ông Trần Đức Luong, Nguyễn Van An – nên việc giới thiệu ông là gần nhu không thể. Nhung, chủ yếu, theo ông Khải: “Tuong quan lực luợng không cho phép”.

Ngày 28-6-2006, Quốc hội bỏ phiếu bầu ông Nguyễn Tấn Dung làm thủ tuớng. Truớc khi rời nhiệm sở, ông Phan Van Khải tổ chức một buổi gặp mặt toàn thể Ban Nghiên cứu với sự có mặt

của thủ tuớng mới duợc bầu Nguyễn Tấn Dung. Tiếp lời ông Phan Van Khải, trong một diễn van ngắn, ông Dung cung dã dùng những từ ngữ tốt dẹp dể nói về Ban Nghiên cứu và tuong lai cộng tác giữa ông và các thành viên. Cung trong cuộc gặp này, ý tuởng hình thành van phòng thủ tuớng trong Van phòng Chính phủ dã duợc cả ông Khải và ông Dung cùng ủng hộ.

Trong dúng một tháng sau dó, công việc của Ban vẫn tiến hành dều dặn. Chiều 27-7-2006, ông

Trần Xuân Giá duợc mời lên phòng thủ tuớng. Ông Giá nhớ lại, dó là một cuộc làm việc vui vẻ, Thủ tuớng Nguyễn Tấn Dung dồng ý dể Giáo su Đào Xuân Sâm, lúc ấy dã lớn tuổi, nghỉ huu và ông cung tỏ ra không bằng lòng với việc Tiến sỹ Lê Đang Doanh vẫn hay phát biểu với vai trò thành viên của Ban Nghiên cứu. Cuộc nói chuyện kéo dài tới 17 giờ ngày 27, Thủ tuớng thân tình dến mức ông Giá tạm thời gạt qua kế hoạch nghỉ huu và trở về ngồi vẽ so dồ tổ chức van phòng thủ tuớng và chuẩn bị kế hoạch củng cố Ban Nghiên cứu.

Hôm sau, ngày 28-7-2006, khi ông Trần Xuân Giá dến co quan ở duờng Lê Hồng Phong thì thấy Van phòng vắng vẻ, nhân viên lúng túng tránh nhìn thẳng vào mắt ông. Ông Trần Xuân Giá làm tiếp một số việc rồi về nhà. Vào lúc 16 giờ cùng ngày, ông nhận duợc quyết dịnh nghỉ huu và quyết dịnh giải thể Ban Nghiên cứu do van thu mang tới. Cả hai cùng duợc chính Thủ tuớng Nguyễn Tấn Dung ký vào ngày 28-7-2006, tức là chỉ ít giờ sau khi ngồi “hàn huyên” với ông Trần Xuân Giá. Theo ông Giá thì ông là nguời cuối cùng trong Ban Nghiên cứu nhận duợc quyết dịnh này.

Ông Nguyễn Tấn Dung sinh tại Cà Mau nam 1949. Mới muời hai tuổi dã theo cha vào “bung” làm liên lạc, ông biết chữ chủ yếu nhờ các lớp bổ túc ở trong rừng do dịa phuong quân tổ chức. Sau dó, ông Dung duợc dua di cứu thuong rồi làm y tá cho Tỉnh dội.

Ngày 30-4-1975, Nguyễn Tấn Dung là trung úy, chính trị viên Đại dội Quân y thuộc Tỉnh dội Rạch Giá. Đầu thập niên 1980, theo ông Lê Khả Phiêu: “Khi ấy, tôi là Phó chính ủy Quân khu IX, trực tiếp gắn quân hàm thiếu tá cho anh Nguyễn Tấn Dung. Nam 1981, khi anh Dung bị thuong ở chiến truờng Campuchia, tôi cho anh về nuớc di học”. Nam 1983, từ truờng Nguyễn Ái Quốc trở về, ông Dung ra khỏi quân dội, bạn bè của cha ông, ông Nguyễn Tấn Thử, dã bố trí ông Dung giữ chức phó Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Nhung vị trí giúp ông có một buớc nhảy vọt trong con duờng chính trị là chức vụ mà ông nhận sau dó: bí thu Huyện ủy Hà Tiên.

Sau Đại hội V, ông Lê Duẩn có ý tuởng co cấu một số cán bộ trẻ và một số cán bộ dang là bí thu các ‘pháo dài huyện’ vào Trung uong làm ủy viên dự khuyết nhu một dộng thái dào tạo cán bộ.

Ông Nguyễn Đình Huong 580 nhớ lại: “Truớc Đại hội VI, tôi duợc ông Lê Đức Thọ phân công trực tiếp về dịa phuong gặp các ứng cử viên. Phía Nam có anh Nguyễn Tấn Dung, bí thu huyện Hà Tiên, cô Hai Liên, bí thu huyện ủy Thống Nhất, Đồng Nai, cô Truong Mỹ Hoa, bí thu quận Tân Bình; phía Bắc có cô Nguyễn Thị Xuân Mỹ, bí thu Quận ủy Lê Chân, Hải Phòng”. Sau Đại hội VI, ông Nguyễn Tấn Dung rời “pháo dài” Hà Tiên về Rạch Giá làm phó bí thu thuờng trực rồi chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh.

Truớc Đại hội Đảng lần thứ VII, khi chuẩn bị cho Đại hội Tỉnh Đảng bộ Kiên Giang, ông Lâm Kiên Trì, một cán bộ lãnh dạo kỳ cựu của tỉnh từ chức, mở duờng cho ông Nguyễn Tấn Dung lên bí thu. Theo ông Nam Loan, khi ấy là ủy viên thuờng vụ, truởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Kiên Giang: “Ông Đỗ Muời vào T78, triệu tập Thuờng vụ Tỉnh ủy lên họp, duyệt phuong án nhân sự và quyết dịnh dua Nguyễn Tấn Dung lên làm bí thu”. Nam ấy ông Dung bốn muoi hai tuổi.

Trong một nền chính trị, mà công tác cán bộ duợc giữ bí mật và phụ thuộc chủ yếu vào sự lựa chọn của một vài nhà lãnh dạo, các giai thoại lại xuất hiện dể giải thích sự thang tiến mau lẹ của một số nguời. Trong khi du luận tiếp tục nghi vấn ông Nông Đức Mạnh là “con cháu Bác Hồ”581, một “huyền thoại” khác nói rằng, cha của ông Nguyễn Tấn Dung dã “chết trên tay ông Lê Đức Anh” và truớc khi chết có gửi gắm con trai cho Bí thu Khu ủy Võ Van Kiệt và Tu lệnh Quân khu IX Lê Đức Anh. Trên thực tế, cha ông Nguyễn Tấn Dung là ông Nguyễn Tấn Thử, thuờng gọi là Muời Minh, dã mất truớc khi hai ông Võ Van Kiệt và Lê Đức Anh dặt chân xuống

Quân khu IX.

Ngày 16-4-1969, một trái bom Mỹ dã ném trúng hầm trú ẩn của Tỉnh dội Rạch Giá làm chết bốn nguời trong dó có ông Nguyễn Tấn Thử khi ấy là chính trị viên phó Tỉnh dội. Một trong ba nguời chết còn lại là ông Chín Quý, chính trị viên Tỉnh dội. Trong khi, dầu nam 1970, ông Lê Đức Anh mới duợc diều về làm tu lệnh Quân khu IX còn ông Kiệt thì mãi tới tháng 10-1970 mới xuống miền Tây. Họ có nghe nói dến vụ ném bom làm chết ông Chín Quý và ông Muời Minh nhung theo ông Kiệt thì cả hai ông dều chua từng gặp ông Muời Minh Nguyễn Tấn Thử. Mãi tới nam 1991, trong dại hội dại biểu tỉnh dảng bộ Kiên Giang, ông Võ Van Kiệt mới thực sự biết rõ về ông Nguyễn Tấn Dung và cho tới lúc này ông Kiệt vẫn muốn ông Lâm Kiên Trì, một nguời mà ông biết trong chiến tranh, tiếp tục làm bí thu Tỉnh ủy Kiên Giang.

Ông Nguyễn Tấn Dung duợc diều ra Hà Nội tháng 1-1995, ông bắt dầu với chức vụ mà xét về thứ bậc là rất nhỏ: thứ truởng Bộ Nội vụ. Truớc Đại hội VIII, theo ông Lê Khả Phiêu: “Khi làm

nhân sự Bộ Chính trị, anh Nguyễn Tấn Dung gặp tôi, nói: ‘Anh em miền Nam yêu cầu tôi phải tham gia Bộ Chính trị’. Trong khi, thứ truởng thuờng trực là anh Lê Minh Huong thì ban khoan: ‘Ngành công an không thể có hai anh ở trong Bộ Chính trị’. Tôi bàn, anh Lê Minh Huong tiếp tục ở trong Bộ Công an, anh Nguyễn Tấn Dung chuyển sang Ban Kinh tế”.

Tháng 6-1996, ông Dung duợc dua vào Bộ Chính trị phụ trách vấn dề tài chính của Đảng. Cho dù, theo ông Lê Khả Phiêu, ông Dung dắc cử Trung uong với số phiếu thấp và gần nhu “dội sổ” khi bầu Bộ Chính trị nhung vẫn duợc dua vào Thuờng vụ Bộ Chính trị, một dịnh chế mới lập ra sau Đại hội VIII, vuợt qua những nhân vật có thâm niên và dang giữ các chức vụ chủ chốt nhu Nông Đức Mạnh, Phan Van Khải. Ông Nguyễn Đình Huong giải thích: “Nguyễn Tấn Dung duợc ông Đỗ Muời dua dột biến vào Thuờng vụ Bộ Chính trị chỉ vì ông Đỗ Muời có quan diểm phải nâng dỡ, bồi duỡng, con em gia dình cách mạng. Tấn Dung vừa là một nguời dã tham gia chiến dấu, vừa là con liệt sỹ, tuớng mạo cung duợc, lại vào Trung uong nam mới ba muoi bảy tuổi”.

Ngay cả khi dã ở trong Thuờng vụ Bộ Chính trị, ông Nguyễn Tấn Dung vẫn là một con nguời hết sức nhã nhặn. Ông không chỉ cùng lúc nhận duợc sự ủng hộ dặc biệt của các ông Đỗ Muời, Lê Đức Anh, Võ Van Kiệt, mà những ai biết ông Dung vào giai doạn này dều tỏ ra rất có cảm tình với ông. Theo ông Phan Van Khải: “Nguyễn Tấn Dung duợc cả ba ông ủng hộ, dặc biệt là ông Lê Đức Anh và Đỗ Muời. Tấn Dung cung biết cách vận dộng. Nam 1997, truớc khi lui về làm cố vấn, cả ba ông thậm chí còn muốn dua Tấn Dung lên thủ tuớng, tuy nhiên khi tham dò phiếu ở Ban Chấp hành Trung uong cho cuong vị này, ông chỉ nhận duợc một luợng phiếu tín nhiệm thấp”.

Kinh tế tập doàn

Truớc Đại hội Đảng lần thứ X, tháng 4-2006, ông Nguyễn Tấn Dung duợc Bộ Chính trị phân công làm tổ truởng biên tập “Báo cáo của Ban Chấp hành Trung uong Đảng khóa IX về phuong huớng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 nam 2006-2010”. Khi chủ trì các buổi thảo luận, ông Nguyễn Tấn Dung yêu cầu dua vào van kiện chủ truong tổ chức doanh nghiệp nhà nuớc theo huớng kinh doanh da ngành.

Theo ông Trần Xuân Giá, tổ phó biên tập: “Cho doanh nghiệp nhà nuớc kinh doanh da ngành là nguợc lại với chủ truong lâu nay của chính phủ nên chúng tôi không dự thảo van kiện theo chỉ dạo của ông Nguyễn Tấn Dung. Đến gần dại hội, ông Dung cáu, ông viết thẳng ra giấy ý kiến

của ông rồi buộc chúng tôi phải dua nguyên van vào Báo cáo, phần nói về doanh nghiệp nhà nuớc: Thúc dẩy việc hình thành một số tập doàn kinh tế và tổng công ty nhà nuớc mạnh, hoạt dộng da ngành, da linh vực, trong dó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong dó sở hữu nhà nuớc giữ vai trò chi phối”.

Lúc ấy, ông Nguyễn Tấn Dung dã có dủ phiếu ở Ban Chấp hành Trung uong dể tiến dến chiếc ghế thủ tuớng. Ông khát khao tạo dấu ấn và nôn nóng nhu những gì duợc viết trong Báo cáo Kinh tế mà ông chủ trì: “Đẩy nhanh tốc dộ tang truởng kinh tế, dạt duợc buớc chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm dua nuớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”.

Mặc dù từ nam 1994, Quyết dịnh số 91/TTg của Thủ tuớng Võ Van Kiệt dã nói dến việc “thí diểm thành lập tập doàn kinh doanh” nhung cho dến nam 2005, Việt Nam chua có một tập doàn nào ra dời. Cuối nhiệm kỳ, Thủ tuớng Phan Van Khải cho thành lập hai tập doàn: Tập doàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam ngày 26-12-2005 và Tập doàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin ngày 15-5-2006.

Hai tháng sau khi nhận chức, ngày 29-8-2006, Thủ tuớng Nguyễn Tấn Dung cho ngành dầu khí duợc nâng lên quy mô tập doàn, PetroVietnam, ngày 30-10-2006 thành lập Tập doàn Công nghiệp Cao su, ngày 9-01-2006 thành lập Tập doàn Buu chính Viễn thông. Tốc dộ thành lập tập doàn kinh tế nhà nuớc có chững lại sau khi cựu Thủ tuớng Võ Van Kiệt viết một thu ngỏ dang trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, yêu cầu thận trọng vì theo ông, trong khi những yếu kém của mô hình tổng công ty 90, 91 chua duợc khắc phục mà lại làm phình to chúng ra bằng các quyết dịnh hành chính là không hợp lý. Ông Võ Van Kiệt viết: “Các doanh nghiệp nhà nuớc của ta có truyền thống dựa vào bao cấp nhiều mặt, không dễ từ bỏ thói quen cu, nếu từ bỏ thói quen cu cung không dễ dứng vững trong thế cạnh tranh… Không có gì dảm bảo khi các tập doàn duợc thành lập sẽ hoạt dộng tốt hon các doanh nghiệp hiện nay”582.

Trong khoảng thời gian từ khi ông Võ Van Kiệt mất, tháng 6-2008, cho dến nam 2011, Thủ tuớng Nguyễn Tấn Dung dã kịp nâng số tập doàn kinh tế nhà nuớc lên con số muời hai. Nhung chính sách cho tập doàn kinh tế nhà nuớc kinh doanh da ngành chứ không phải số luợng tập doàn kinh tế nhà nuớc mới là nguyên nhân chính dẫn dến khủng hoảng kinh tế.

Theo ông Phan Van Khải: “Khi thành lập Tập doàn Vinashin, tôi nghi, dất nuớc mình có bờ biển dài hon 3.000km, phát triển ngành công nghiệp dóng tàu là cần thiết nhất là khi ngành công

nghiệp này dang duợc chuyển dịch từ các nuớc Bắc Âu về Trung Quốc, Hàn Quốc. Chính tôi quyết dịnh dầu tu cho Vinashin khoản tiền bán trái phiếu chính phủ hon 700 triệu USD. Nhung, sau dó thì không chỉ Vinashin mà nhiều tập doàn khác cung phát triển ồ ạt nhiều loại ngành nghề, ở dâu cung thấy dất dai của Vinashin và của các tập doàn nhà nuớc”.

Theo ông Trần Xuân Giá: “Ông Nguyễn Tấn Dung coi doanh nghiệp nhà nuớc nhu một dộng lực phát triển, nhung phát triển doanh nghiệp nhà nuớc theo cách của ông Dung không hẳn chỉ dể làm vừa lòng ông Đỗ Muời”. Cho phép các tập doàn kinh tế nhà nuớc kinh doanh da ngành cung nhu tháo khoán các kênh dầu tu mà nguồn vốn cho khu vực này lại thuờng bắt dầu từ ngân sách. Ông Phan Van Khải giải thích: “Nguyễn Tấn Dung muốn tạo ra một thành tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ dầu tiên của mình. Tấn Dung muốn hoàn thành kế hoạch 5 nam chỉ sau bốn nam. Ngay trong nam 2007, ông dầu tu ồ ạt. Tiền dổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, dể có vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cung duợc dua ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vi mô bắt dầu”.

Theo ông Trần Xuân Giá: “Thời Thủ tuớng Phan Van Khải, mỗi khi tổng dầu tu lên tới trên 30% GDP là lập tức thủ tuớng duợc báo dộng. Truớc nam 2006, nam có tổng dầu tu lớn nhất cung chỉ dạt 36%. Trong khi, Thủ tuớng Nguyễn Tấn Dung, ngay sau khi nhận chức dã dua tổng mức dầu tu lên 42% và dạt tới 44% GDP trong nam 2007”. Cho tới lúc dó những ý kiến can gián thủ tuớng cung chủ yếu xuất phát từ các thành viên cu của Ban Nghiên cứu nhu Trần Xuân Giá, Lê Đang Doanh, Phạm Chi Lan. Nhung tiếng nói của họ không còn sức mạnh của một dịnh chế sau khi Ban Nghiên cứu dã bị giải tán. Cả ba sau dó còn nhận duợc các khuyến cáo một cách trực tiếp và nhiều co quan báo chí trong nhiều tháng không phỏng vấn hoặc dang bài của những

chuyên gia này.

Nam 2006, tang truởng tín dụng ở mức 21,4% nhung con số này lên tới 51% trong nam 2007583. Kết quả là lạm phát cả nam ở mức 12,6%. Các doanh nghiệp, các ngân hàng bắt dầu nhận ra những rủi ro, từng buớc kiểm soát vốn dầu tu vào chứng khoán và dịa ốc. Nhung dầu nam 2008, Chính phủ của Thủ tuớng Nguyễn Tấn Dung duờng nhu hoảng sợ khi lạm phát lên tới gần 3% mỗi tháng và những “liệu pháp” duợc dua ra sau dó dã khiến cho nền kinh tế dồn dập chịu nhiều cú sốc.

Cuối tháng 1-2008, Ngân hàng Nhà nuớc yêu cầu các ngân hàng thuong mại phải tang dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%. Để có ngay một luợng tiền mặt lên tới khoảng 20.000 tỷ dồng nhằm dáp

ứng nhu cầu dự trữ, các ngân hàng thuong mại cổ phần buộc lòng phải tang lãi suất huy dộng. Lãi suất qua dêm thị truờng liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008 tang vọt lên tới 27%, trong khi dầu tháng, con số này chỉ là 6,52%. Ngày 13-2-2008, Ngân hàng Nhà nuớc lại ra quyết dịnh, buộc các ngân hàng thuong mại phải mua một luợng tín phiếu trị giá 20.300 tỷ dồng. Áp lực tiền bạc dã làm náo loạn các tổ chức tín dụng.

Thoạt dầu, các tổng công ty nhà nuớc rút các khoản tiền dang cho vay lãi suất thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi sang ngân hàng cổ phần. Chỉ trong ngày 18-2-2008, các tổng công ty nhà nuớc dã rút ra hon 4.000 tỷ dồng. Các ngân hàng quốc doanh, vốn vẫn dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ Nhà nuớc dem cho các ngân hàng nhỏ vay l

Tô Oanh

Go!

∑Home

∑About

Bên Thắng Cuộc II. Quyền Bính ( 4 )

17/01/2013 at 12:09 chiềuĐể lại phản hồi

Bên Thắng Cuộc

II. Quyền Bính ( 4 )

Huy Đức

( Tiếp theo và hết )

Chú dẫn :

1 Cho dến Nam 2005, ông Nguyễn Thành Đệ dã chết gục trên bàn tiếp dân của Sở Xây dựng, kết thúc bi kịch dòi lại can nhà mà ông dã bị tịch thu nam 1979.

2 Tên thuờng gọi của ông Trần Minh Đức, phó tổng biên tập Tuổi Trẻ 1981-1997, nguời duợc coi là “bộ óc chiến luợc” của báo.

3 Tổng biên tập Tuổi Trẻ 1979-1983, phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng 1983-1990 và sau dó là tổng biên tập Thời báo Kinh tế Sài Gòn 1990-2006.

4 Gồm Lê Thọ Bình, Tâm Chánh, Thanh Tâm, Phan Ngọc, Bùi Thanh, Kim Trung, Minh Đức,

Minh Hà…

5 Khi ấy là Phó tổng biên tập báo Nhân Dân.

6 Ông Nguyễn Van Linh viết: “Sau vài bài dầu của Những việc cần làm ngay, có dồng chí khuyên tôi nên thôi, vì lo: Những bài viết của tôi sẽ không duợc huởng ứng, lúc dó mới thôi viết, thế là dánh trống bỏ dùi, dã vô ích lại mất tín nhiệm; Sợ tôi làm sao biết hết, biết thật dúng mọi việc, sẽ có sự dôi co phản tác dụng…; Cung có nguời có trách nhiệm chỉ trích, biết bao nhiêu việc cần làm, sao phải hang hái chống tiêu cực nhu vậy? Sao không chuyên tâm nói tới những chuyện tích cực? Vài tram tấn tỏi, mấyvị mang hộ chiếu ngoại giao di buôn… có gì là ghê gớm, phê và tự phê công khai chỉ làm rối lòng dân, làm cản trở công việc của cán bộ lãnh dạo”. Rồi ông tuyên bố: “Đành phải trái lời khuyên, tôi vẫn viết tiếp vì thấy cần quá” (báo Nhân Dân số ra

ngày 10-7-1987).

7 Chỉ thị 05/CT-TU, luu trữ tại Thu viện Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thành ủy Thành phố Hồ

Chí Minh.

8 “Tiêu biểu là quận Tân Bình, dã thực hiện duợc 1129 việc cần làm ngay trong dó có 520 việc ở khu phố, số việc chống tiêu cực chỉ chiếm 5% còn lại là những việc tích cực nhu lập an ninh trật tự, phân phối luu thông, sửa duờng, cầu cống, lớp học. Ở Phú Nhuận, thực hiện duợc 181/256 sự việc. Ở Hóc Môn, thành lập duợc 7 doàn cán bộ xuống tháo gỡ khó khan ở 31 hợp tác xã và 14 xã” (Chỉ thị 05/CT- TU, luu trữ tại Thu viện Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thành ủyThành phố Hồ Chí Minh).

9 Phó chính ủy Quân giải phóng miền Nam trong thời gian ông Nguyễn Van Linh làm Phó bí thu Trung uong Cục.

10 Những phát biểu trong cuộc dối thoại duợc trích dang trong doạn này lấy từ bài tuờng thuật trên báo Van Nghệ 42, ngày 17-10-1987.

11 Nam 1957, khi ra Bắc, thay vì chọn Nguyễn Van Linh, nguời dã là thuờng vụ Xứ ủy từ nam 1949, Lê Duẩn giao chức bí thu Xứ ủy Nam Bộ cho ông Phạm Hữu Lầu, một nguời dang có bệnh và chỉ sống duợc thêm vài nam sau dó. Tại Đại hội III, ông Linh duợc bầu vào Trung uong và, nam 1960, khi Xứ ủy Nam Bộ duợc thay thế bằng Trung uong Cục, ông là bí thu. Nhung, nam 1965, khi “cách mạng miền Nam” chuyển sang giai doạn “dánh Mỹ”, ông Lê Duẩn dã dua Đại tuớng Nguyễn Chí Thanh vào thay thế. Nam 1967 khi ông Thanh mất, một ủy viên Bộ Chính trị khác là Phạm Hùng dã duợc “diền” vào dể nắm Trung uong Cục. Ông Linh phải chấp nhận làm “phó” cho tới sau 1975. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Van Linh duợc giao phụ trách phần “nổi dậy” và khi về Sài Gòn, ông “lửng lo” ở Trung uong Cục cho tới tháng 2-

1976 mới duợc bố trí làm bí thu Thành ủy Sài Gòn-Gia Định. Tháng 12-1976, Nguyễn Van Linh trở thành ủy viên Bộ Chính trị nhung chỉ duợc làm truởng Ban Cải tạo xã hội chủ nghia Trung uong; rồi nam 1978, khi xuất hiện vấn dề “nguời Hoa”, ông Lê Duẩn dua Đỗ Muời vào thay thế. Nguyễn Van Linh duợc diều ra Hà Nội làm truởng Ban Dân vận, rồi chủ tịch Tổng Công doàn. Đến nam 1980 thì ông chỉ còn là “ủy viên Bộ Chính trị theo dõi thực hiện nghị quyết của Đảng và Chính phủ ở phía Nam”.

12 Trong cuốn sách này, Nguyễn Van Linh phê phán sự “choáng ngợp truớc thắng lợi” và chỉ trích những cán bộ tiếp quản miền Nam “thừa nhiệt tình và thiếu kiến thức”. Ông Linh viết: “Chúng ta dã không dủ bình tinh dể nhìn thành phố một khi duợc giải phóng, hiển nhiên trở thành tài sản của chính chế dộ ta dù cho kẻ thù xây dựng thành phố nhằm mục dích gì; chua nhận thức duợc thực trạng kinh tế- xã hội của Thành phố qua hai muoi mốt nam sống duới chế dộ thực dân mới, dã là một khu vực có trình dộ phát triển tu bản chủ nghia nhất dịnh… thay vì giữ cho quy trình sản xuất tiếp tục vận hành và phát triển thì chúng ta vội vàng lên án, vội vàng sửa dổi co chế của nó, phủ nhận từ khoa học quản lý dến quy trình kỹ thuật” (Thành phố Hồ Chí Minh 10 nam, Nhà Xuất bản Sự thật 1985, trang 95).

13 Trong khi, ngày 17-10-1986, Truờng Chinh dã “tuyên ngôn dổi mới” tại Đại hội dại biểu dảng bộ Hà Nội. Ngày 23-10-1986, phát biểu tại Đại hội dại biểu dảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Van Linh vẫn kêu gọi: “Nâng cao hiệu quả kinh doanh phục vụ của thuong nghiệp xã hội chủ nghia, tang cuờng quản lý thị truờng, giá cả”. Mãi tới cuối bài phát biểu,

Nguyễn Van Linh mới luu ý các dại biểu về bài phát biểu nói trên của Tổng Bí thu Truờng

Chinh.

14 Nam 1978, cách “dánh tu sản” của ông Đỗ Muời dã làm cho hầu hết các nhà lãnh dạo có mặt ở miền Nam phản ứng. Nhung, theo ông Đặng Quốc Bảo, ông Nguyễn Van Linh còn có một số bức diện gửi cho Ban Bí thu, phân tích vai trò quan trọng của nguời Hoa nhu một nhịp cầu nối nền kinh tế miền Nam với các noi. Cách nhìn nhận này, theo ông Bảo: “Đã làm cho những nguời bảo thủ trong Trunguong quy kết ông Linh chống lại Nghị quyết Đại hội IV. Nguời trực tiếp truyền dạt ý kiến này là ông Truờng Chinh”. Nam 1983, khi Hội nghị Đà Lạt diễn ra, theo bà Nguyễn Thị Đồng, bí thu nhà máy Dệt Thành Công, mấy lần bà duợc ông Linh rỉ tai: “Ông Truờng Chinh dã thừa nhận ông ấy sai, tôi dúng”. Thu ký của Tổng Bí thu Truờng Chinh, ông Trần Nhâm kể: Ngay sau bài phát biểu tại Hội nghị Trung uong 6, tháng 7-1984, Nguyễn Van Linh là một trong những nguời dầu tiên dến nhà ca ngợi ông Truờng Chinh. Nhung khi Truờng Chinh dề nghị: “Anh nắm duợc thực tế, anh nên phát biểu, vì tình hình còn cang lắm”. Ông Linh nói: “Anh phát biểu thì chúng tôi ủng hộ chứ chúng tôi không phát biểu duợc”.

15 Đại Việt Tân Báo của Đào Nguyên Phổ, nam 1905; Đang Cổ Tùng Báo, nam 1908, Đông Duong Tạp Chí của Nguyễn Van Vinh, nam 1913; Nam Phong Tạp chí của Phạm Quỳnh, Phan Khôi, nam 1917. Nam 1927, ở miền Trung, Huỳnh Thúc Kháng ra tờ Tiếng Dân. Nam 1930, Quốc Dân dảng ra hai tờ: Khúc Tiêu Sầu và Con Đuờng Chính.

16 Nguyễn Đình Thi, Nhân Đuờng, Tạp chí Van Nghệ số 1.

17 Tạ Tỵ, Mai Thảo, Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng, Nguyễn Mạnh Côn, Đinh Hùng, Vu Hoàng Chuong, Doãn Quốc Sỹ, Phạm Duy, Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Duong Nghiễm Mậu, Lê Van Vu Bắc Tiến…

18 Phát ngôn nổi tiếng của Mao: “Trí thức không bằng cục phân”.

19 Ngày 11-3-1955.

20 Vu Tú Nam, Sự thực về con nguời Trần Dần, Van Nghệ Quân dội, số 4, tháng 4-1958.

21 Trong bài tho Nhất Định Thắng, Trần Dần viết: Gặp em trong mua/ Em di tìm việc/ Mỗi ngày di lại cúi dầu về/ – Anh ạ!/ Họ vẫn bảo chờ… Tram cái bận hàng ngày nhay nhắt./ Chúng ta vẫn làm an chiu chắt./ Ta biết dâu bên Mỹ miếc tít mù/ Chúng còn duong bày kế hại dời ta?

22 “Luồng gió ấm” này của Van nghệ Liên Xô dã sinh ra một thế hệ van nghệ si tài nang với các tác phẩm xuất sắc nhu Bác si Jivago, Đàn Sếu Bay Qua, Hai Nguời Lính, Nguời thứ 41, Không Thể Sống Bằng Bánh Mì, Ngày Của Binh Nhất Ivan…

23 Ra ngày 15-9-1956.

24 Nhân Van số 2

25 Nhân Van số 5

26 Điều 8, Sắc lệnh 14-12-1956, quy dịnh: “Muốn xuất bản một tờ báo phải xin phép truớc, phải làm dầy dủ những thủ tục về khai báo. Sau khi duợc co quan phụ trách về báo chí của Chính phủ cấp giấy phép tờ báo mới duợc bắt dầu hoạt dộng. Báo chí nào dã duợc cấp phép xuất bản mà sau dó có một sự thay dổi nào về tôn chỉ, mục dích, tên báo, kỳ hạn phát hành hoặc về những nguời chịu trách nhiệm chính thức của tờ báo dều phải xin phép và khai báo lại”.

27 Ngày 30-10-1956, sau khi nghe Truờng Chinh thay mặt Đảng dọc “kiểm diểm về sai lầm của Cải cách Ruộng dất” truớc Hội nghị Ban Chấp hành Trung uong Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, ông Nguyễn Mạnh Tuờng dã nói: “ Tôi phấn khởi duợc nghe bản phê bình của Đảng Lao dộng do ông Truờng Chinh dọc truớc Hội nghị. Nhung tôi cung phải thú rằng lòng phấn khởi của tôi một phần bị giảm di, vì tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm dã phạm trong công cuộc Cải cách Ruộng dất. Tôi xin phép các vị duợc kính cẩn nghiêng mình truớc những nguời vô tội dã chết oan, không phải vì bàn tay của dịch mà chính của ta. Trong cuộc kháng chiến anh dung của ta, những dồng bào dã hi sinh, có thể nói, duợc chết với trong lòng chan chứa nỗi vui suớng vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của dịch. Họ chết bởi dịch, cho ta. Đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, những nguời chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng dất này, lúc tắt thở, cay dắng dau xót vì chết với một ô danh”. Giáo su Nguyễn Mạnh Tuờng nói tiếp: “Ta muốn gì? Tìm kẻ thù của nông dân, của cách mạng dể tiêu diệt nó. Nhung,… khi dua ra khẩu hiệu ‘thà chết muời nguời oan còn hon dể sót một dịch’ thì khẩu hiệu này không những quá tả một cách vô lý mà phản lại cách mạng là dằng khác nữa… Khẩu hiệu này dã tổn thiệt cho uy tín của cách mạng và cho bản thân bao nhiêu chiến si cách mạng. Nếu không phải dó là phản lại cách mạng thì là gì? Khẩu hiệu của pháp lý phải là: thà muời dịch sót còn hon một nguời bị kết án oan”. Giáo su Nguyễn Mạnh Tuờng chỉ ra diểm mấu chốt của sai lầm: “Ta bất chấp pháp luật, lấy chính trị lấn át pháp lý”. Ông tiếp: “Tại sao có những hiện tuợng quái gở nhu vậy? Là vì chính trị chiếm dóng

tất cả các khu vực trong nhận thức của chúng ta làm chúng ta mất cả cái nhân dạo tối thiểu của con nguời, làm chúng ta khuớc từ chân lý”(Tập san Tự do Diễn dàn, Minh Đức xuất bản số cuối

tháng 12-1956).

28 Nguyễn Huy Tuởng, Nhật ký Tập III, Nhà Xuất bản Thanh Niên 2006, trang 222. 29 Đinh Linh phải ngồi tù cho tới nam 1975.

30 Theo dại tá Thái Kế Toại (Lê Hoài Nguyên – Vụ Nhân Van Giai Phẩm…).

31 Theo Đại tá Thái Kế Toại, nguời phụ trách hồ so vụ Nhân Van Giai Phẩm ở A 25: “Nghị quyết này là một diển hình cho tình trạng cực doan về lãnh dạo van nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

32 Một quần thể kiến trúc ở Hà Nội xây dựng bởi Tổng dốc Hoàng Cao Khải, thời Thành Thái. 33 Trong bài “Tổng kết cuộc dấu tranh chống Nhân Van Giai Phẩm” dọc ngày 4-6-1958, Tố Hữu nói: Nhu lời thú nhận của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, cuộc phê bình tập tho Việt Bắc là do cái bè phái ấy sắp dặt, dể dánh vào sự lãnh dạo và duờng lối van nghệ của Đảng, duờng lối phục vụ chính trị cách mạng, phục vụ công nông binh, và dể dề xuớng cái “diệu tâm hồn” ruỗng nát của chủ nghia cá nhân tu sản, mở cửa cho lối sống tự do sa dọa. Đuong nhiên cái “diệu tâm hồn” ấy của Lê Đạt xuớng lên không thể nào hoà duợc với cái diệu lớn của cách mạng, và cung rất tự nhiên nó chỉ hoà duợc với “tiếng sáo tiền kiếp” lóc gân của tên mật thám Trần Duy. Cung lúc ấy, bọn Trần Dần, Tử Phác – những dứa con hu hỏng của Hà nội cu – nay lại trở về với “cảnh cu nguời xua” bỗng cảm thấy dời sống trong quândội “nghẹt thở”, chỉ vì thiếu cái tự do trở lại dời sống trụy lạc cu. Đối với chúng, dời sống trong quân dội cách mạng chỉ còn là “những sợi dây xích trói buộc phải phá mà ra”. Đuợc tiêm thêm ít nhiều chất phản dộng của Hồ Phong, Trần Dần gióng lên “tiếng trống tuong lai” chửi cán bộ chính trị là “nguời bệnh”, “nguời ròi”, “nguời ụ”. Cùng Tử Phác, khiêu khích những anh em khác, hắn tổ chức một cuộc dấu tranh “buộc lãnh dạo thực hiện mọi yêu cầu” của họ (Bọn Nhân van – Giai phẩm truớc Tòa án Du luận, Nhà Xuất bản Sự thật tháng 6- 1959, trang 23).

34 Nhận xét của Đại tá Thái Kế Toại.

35 Hoàng Cầm bị khai trừ khỏi Ban Chấp hành Hội, khai trừ ra khỏi Hội một nam; “Cho” Hoàng Tích Linh rút khỏi Ban Chấp hành; Khai trừ vinh viễn Phan Khôi, Truong Tửu, Thụy An ra khỏi Hội Nhà van; Khai trừ có thời hạn ba nam dối với Trần Dần, Lê Đạt; Khai trừ một nam dối với Phùng Quán. Ở Hội Mỹ thuật: “cho” Si Ngọc và Nguyễn Sáng rút khỏi Ban Chấp hành; khai trừ

Trần Duy. Ở Hội Nhạc si: “cho” Van Cao, tác giả Quốc ca và Nguyễn Van Tý, rút khỏi Ban Chấp hành; khai trừ ba nam Tử Phác, Đặng Đình Hung ra khỏi Hội. Một số nhân si có thái dộ ủng hộ Nhân Van nhu Duong Đức Hiền, Vu Đình Hòe, Đỗ Đức Dục, Hoàng Van Đức, Đặng van Ngữ, Nguyễn Tấn Gi Trọng… dều bị liên lụy. Tại các dịa phuong, nhiều giáo viên, cán bộ , học sinh có mua báo Nhân Van dều bị xử lý với nhiều hình thức.

36 Theo Đại tá Thái Kế Toại.

37 Theo Đại tá Thái Kế Toại.

38 Trần Dần tự nhận: “Tất cả cái gọi là sự nghiệp chống công thức, tìm cái mới của tôi chỉ là sự nghiệp chống Đảng ngày càng trầm trọng và khôn khéo hon, nhu thế mà thôi. Tôi tuởng tôi là một thứ ‘martyr’ (tử vì dạo) vì dân vì Đảng, nhung sự thực chứng tỏ dối dân, dối Đảng, tôi là một kẻ tội dồ, mà dân ta, Đảng ta còn chua trừng trị. Tôi tuởng con duờng tôi dã di là con duờng hi sinh cao cả ‘chemin de calvaire’ sự thực chứng tỏ dó chỉ là một con duờng tội lỗi nho bẩn mà hình phạt vẫn còn chua xứng tội” (Van Học số 1, ngày 25-5-1958, và Van Nghệ số 12, tháng 5-

1958). Lê Đạt dã tự nhận mình “xuất thân từ giai cấp tu sản bóc lột”, “vào Đảng với dộng co dịa vị”, và ngaycả “lấy vợ cung co hội, kiếm chác ‘lập truờng’ trên dời một nguời cốt cán rồi dến lúc về Hà Nội lại hiện nguyên hình giai cấp bóc lột khinh công nông ruồng rẫy vợ, cho vợ không xứng dáng với mình”. Ông cho rằng “dồng chí Tố Hữu dối với tôi rất tốt và luôn luôn nâng dỡ

tôi”.

Lê Đạt “thừa nhận” việc phê bình tho Tố Hữu là vì “háo hức kiếm danh” mà “quên hết cả những diều tốt của dồng chí Tố Hữu, hằn học dả kích hòng dìm dồng chí xuống dể nâng mình lên” (Van Học số 1, ngày 25-5-1958 và Van Nghệ số 12, tháng 5-1958). Còn dây là một bài báo dứng tên Hoàng Cầm: “Tôi dã là một tên dào ngu, bỏ hàng ngu cách mạng, di làm một tay sai lợi hại cho tu sản phản dộng. Từ một nguời trông có vẻ hiền lành ‘nho nhã’ kéo lê một cái xác thịt huởng lạc, hiếu danh, hiếu sắc, thèm tiền trong các tiệm trà, tiệm cà phê, tửu quán, dầu óc vẫn dục, den tối bởi những ý nghi phản dộng, tôi dã rất nhanh chóng biến thành một con rắn dộc cắn lại cách mạng” (Van Nghệ 12, tháng 5-1958). Chính tác giả Quốc ca, Van Cao, cung phải viết: “Tôi dã bị mất dần phẩm chất cách mạng, mù quáng dến chỗ không thấy duợc sự phản ứng của chủ nghia tu bản với sự tấn công của chủ nghia dế quốc Mỹ và bè lu tay sai từ bên ngoài vào. Trong khi các dồng chí dang phải tích cực dấu tranh với những âm muu của nhóm ‘Nhân van-Giai phẩm’ thì tôi dã tự biến mình thành tay trong của bọn cầm dầu ‘Nhân van- Giai phẩm’ hoạt dộng trong nội

</